Duyên chưa kịp mở miệng thì đã có người nói thay chị.
"Sáu trăm đồng rồi mà còn quỳ đấy làm gì nữa? Chết một người mà được bằng ba năm công điểm, nhà tôi có mà mơ."
Tiếng nói không to, nhưng cũng không nhỏ. Cái kiểu nói vờ như nói với người bên cạnh, mà thực ra là để cả sân nghe. Duyên biết giọng ấy. Bà Hồ, nhà ở cuối xóm, chỗ con suối rẽ. Người đàn bà có cái miệng mỏng và hai bàn tay lúc nào cũng nắm chặt như sợ ai giật mất cái gì.
Mấy người đứng quanh bà Hồ gật gù. Có người nói thêm, cũng khẽ khàng như thế: "Ừ, quỹ hợp tác xã có phải của riêng nhà ai đâu." Một người đàn ông ngồi xổm gõ điếu cày vào gót dép, ậm ừ: "Năm nay mất mùa ngô, thóc chia đã ít, lại còn..."
Duyên cảm thấy cái không khí vừa nghiêng về phía nhà mình bắt đầu chòng chành.
Đây là thứ chị sợ nhất. Không phải thím Mã. Thím Mã độc mồm, nhưng ai cũng biết thím độc mồm, nên lời thím nói ra nhẹ như lông gà. Bà Hồ thì khác. Bà Hồ nói đúng cái điều mà một nửa cái sân này đang nghĩ mà không dám nói: nhà ai cũng nghèo, nhà ai cũng đói, sao nhà ông Ba Tam lại được hơn?
Kiếp trước chị không hiểu điều đó. Kiếp trước, chị chỉ thấy người ta ghen ăn tức ở. Phải đến khi già, sống đủ ở những nơi người ta tranh nhau từng suất trợ cấp, từng cái sổ hộ nghèo, chị mới hiểu cái ghen ấy không phải lúc nào cũng xấu. Nó là sợ. Sợ mình thiệt. Muốn người ta thôi sợ thì phải cho người ta thấy cái mình được là cái mình đã trả bằng giá đắt.
Và cái giá ấy, bà Hồ biết rõ hơn ai hết.
Duyên vẫn quỳ, nhưng chị xoay người, quay hẳn về phía bà Hồ. Chị để cho ánh đèn bão rọi thẳng vào mặt mình, vào cái địu trên lưng có đứa em vừa nín khóc.
"Bác Hồ ơi," chị nói. Giọng chị lễ phép, rõ ràng, từng tiếng một. "Cháu xin hỏi bác một câu. Anh Năm nhà bác dạo này đỡ đau lưng chưa ạ?"
Bà Hồ khựng lại. Cái miệng mỏng mím vào.
"Đau lưng gì? Con tao có đau lưng gì đâu."
"Thế thì cháu mừng." Duyên gật đầu. "Vì mấy đêm trước khi bố cháu mất, anh Năm sang nhà cháu, bảo anh đau lưng không gặt đêm được, nhờ bố cháu gặt thay. Bố cháu nhận. Đêm thứ nhất bố cháu đi từ chập tối, gà gáy mới về. Đêm thứ hai cũng thế. Đêm thứ ba bố cháu về, nằm được một lúc lại phải dậy đi ca ngày. Đến đêm thứ tư thì người ta khiêng bố cháu về."
Sân kho im phăng phắc.
Chị không phải bịa. Chị nhớ rõ từng đêm ấy, nhớ cả trong kiếp này lẫn kiếp trước, vì nó là những đêm cuối cùng chị còn có bố. Nhớ tiếng liềm bố mài xoèn xoẹt ngoài hiên lúc chiều. Nhớ mẹ hỏi "sao lại đi nữa", và bố cười, bảo "thằng Năm nhà bà Hồ nó đau lưng, nhờ thì làm hộ, mình đang cần công điểm, mùa đông sắp tới rồi". Nhớ bàn tay bố lúc về, lạnh như băng, đặt lên trán chị kiểm tra xem con có đắp chăn không.
Kiếp trước, sau đám tang, không ai nhắc lại chuyện ấy. Mẹ không nhắc vì mẹ không nghĩ đến. Chị không nhắc vì chị mới chín tuổi và chẳng ai hỏi chị điều gì. Chuyện bố gặt thay ca đêm cho người khác cứ thế chìm đi, như chưa từng có.
"Cháu không trách anh Năm," Duyên nói tiếp, chậm rãi hơn. "Bố cháu tự nhận lời. Nhà cháu cần công điểm thật. Nhưng bác Hồ ơi, bác đừng bảo nhà cháu chết một người mà được lợi. Bố cháu gặt ba ca đêm cho nhà bác, rồi chết ngoài ruộng. Sáu trăm đồng ấy là tiền mua mạng bố cháu. Nếu bác muốn, cháu xin đổi. Cháu trả lại hợp tác xã sáu trăm đồng, bác trả bố cho cháu."
Câu cuối, giọng chị vỡ ra một chút. Chị không định thế. Nó tự vỡ.
Mẹ Hương bên cạnh ngẩng phắt lên. Mẹ nhìn con gái, rồi nhìn bà Hồ, và mẹ gật đầu. Không nói gì, chỉ gật đầu. Một cái gật đầu của người vợ biết chuyện, đủ để cả sân hiểu con bé không bịa.
Mọi con mắt quay về phía bà Hồ, rồi trượt dần ra sau lưng bà.
Hồ Năm đứng ở đó. Anh ta hai mươi mấy tuổi, cao lêu nghêu, tóc húi cua, cái áo cánh mỏng xắn đến khuỷu, để lộ hai cánh tay rám nắng. Hồi chiều Duyên còn thấy anh ta khỏe như vâm, vác hai bao thóc một lúc từ sân vào kho. Bây giờ anh ta đứng như trời trồng, mặt tái đi dưới ánh đèn, mắt nhìn xuống đôi dép cao su.
"Năm," có ai đó gọi. "Có thật thế không?"
Hồ Năm không đáp. Anh ta mấp máy môi, như muốn nói gì đó rồi lại thôi. Bà Hồ quay phắt lại, kéo tay con trai, rít qua kẽ răng: "Mày câm đi."
Nhưng câm hay không thì cũng thế rồi. Cái im lặng của Hồ Năm còn rõ ràng hơn mọi lời thú nhận.
Duyên nhìn anh ta và thấy một điều mà chị không chờ đợi. Hồ Năm không có vẻ của người bị bắt quả tang. Anh ta có vẻ của người bị đè một tảng đá đã lâu, bây giờ có người chỉ thẳng vào tảng đá ấy. Mắt anh ta đỏ hoe. Anh ta liếc về phía mẹ Hương một cái, rất nhanh, rồi cúi gằm xuống.
Chị ghi nhớ cái nhìn ấy. Chị không biết vì sao, nhưng bà lão trong chị bảo phải nhớ.
Bà Hồ lôi con trai lùi lại mấy bước, lẩn vào sau đám đông. Những người vừa gật gù với bà lúc nãy bỗng thấy cần phải nhìn đi chỗ khác. Người đàn ông gõ điếu cày gõ thêm mấy cái nữa, rồi thôi.
Chủ nhiệm Lực vẫn ngồi xổm trước mặt Duyên. Anh ta thở ra một hơi dài, cái hơi thở của người vừa bị kéo vào một chuyện lớn hơn mình tưởng.
"Thôi," anh ta nói. "Chuyện ca đêm, ban quản trị sẽ xem lại sau. Bây giờ cháu nói chú nghe. Nhà cháu cần gì?"
Duyên đã chuẩn bị câu này từ chiều. Chị đã nằm trên ổ rơm, nhìn lên mái tranh thủng, tính từng con số như hồi làm sổ sách cho cái quán tạp hóa của chị năm hai nghìn linh mấy. Đòi ít thì không đủ sống. Đòi nhiều thì người ta không cho, mà còn mang tiếng tham. Phải đòi đúng những thứ hợp tác xã có sẵn, cho đi không đau, mà nhà chị thì không thể thiếu.
"Thưa chú," chị nói. "Sáu trăm đồng nhà cháu xin nhận, đội ơn hợp tác xã. Nhưng sáu trăm đồng nhà cháu tiêu một mùa đông là hết, mà em cháu còn phải lớn đến mười mấy năm nữa. Cháu xin chú với ban quản trị ba điều."
Chị giơ tay, bẻ từng ngón, như trẻ con đếm.
"Một, mỗi năm đến vụ chia khoai, hợp tác xã cho nhà cháu thêm ba tạ khoai lang ngoài phần công điểm. Hai, cho nhà cháu một luống rau ở vườn tập thể, cháu với các em tự trồng tự hái, không lấy của ai. Ba, bốn chị em cháu được miễn học phí, để không đứa nào phải bỏ học đi chăn trâu."
Chị dừng lại, rồi thêm:
"Đến khi cháu đủ mười lăm tuổi, làm được công điểm như người lớn, thì nhà cháu thôi xin."
Một lúc lâu không ai nói gì. Rồi bác Hai Nghĩa đứng sau lưng chủ nhiệm Lực tằng hắng, mở sổ ra.
"Khoai lang năm nay kho còn dư," bác nói, giọng đều đều như đọc số liệu. "Ba tạ một năm, sáu năm là mười tám tạ, chia ra chẳng thấm vào đâu. Vườn tập thể bên kia suối còn mấy luống bỏ hoang vì không ai có công mà trồng. Còn học phí, trường xã đã có chế độ miễn cho con liệt sĩ, con thương binh, thêm con nhà gặp nạn lao động thì xã cũng không phản đối."
Duyên liếc nhìn bác Hai. Bác không nhìn chị. Bác chỉ đẩy gọng kính lên, mặt tỉnh như không.
Chị Chu hội phụ nữ lên tiếng ngay sau: "Tôi thấy được đấy. Con bé nó không đòi tiền, nó đòi cái ăn cái học. Hội Phụ nữ đứng ra bảo lãnh."
"Phải đấy," bác Lý gái nói to từ chỗ đám đàn bà. "Nhà ông Tam có bao giờ nợ ai cân thóc nào đâu."
"Thằng Tam nó gặt cho cả xóm này bao nhiêu vụ," một ông già ngồi ở bậc kho nói, giọng khàn khàn. "Giờ để vợ con nó đói thì cả xóm này mang tiếng."
Bác Tôn gái không nói gì. Bác chỉ bước đến, ngồi xuống bên cạnh mẹ Hương, khoác tay qua vai mẹ. Hai người đàn bà mới mất người thân ngồi sát vào nhau trên nền sân lạnh.
Duyên cảm thấy cái sân kho chuyển động như một con thuyền xoay mũi. Chậm, nặng, nhưng đã xoay.
Chủ nhiệm Lực đứng dậy, phủi đầu gối. Anh ta quay về phía bí thư chi bộ. Ông bí thư vẫn ngồi trên cái ghế đẩu, rít một hơi thuốc dài, rồi chậm rãi gật đầu một cái.
"Được," chủ nhiệm Lực nói. "Ban quản trị sẽ..."
"Thưa chủ nhiệm."
Một giọng đàn ông cất lên từ giữa đám đông. Giọng trầm, ấm, có cái âm điệu từ tốn của người quen đứng trước người khác mà nói.
Duyên không cần quay lại. Toàn thân chị cứng lại như bị dội một gáo nước lạnh.
Đám đông dạt ra hai bên. Bác Cả Tô Văn Đại bước tới, cái áo đại cán đã sờn nhưng cài khuy đến tận cổ, đầu chít khăn tang trắng gọn gàng, tay chắp sau lưng. Sau lưng bác là bác gái Cả, môi mím chặt. Bác đi thong thả đến giữa sân, đứng cạnh chỗ mấy mẹ con Duyên đang quỳ, cúi xuống nhìn họ bằng đôi mắt đầy thương xót.
"Thưa chủ nhiệm, thưa các bác các chú," bác Cả nói. "Em tôi mất, tôi là anh cả, chưa kịp nói câu nào thì cháu tôi đã phải quỳ ra đây. Cái tội ấy là tội của tôi."
Trên lưng Duyên, thằng Út đột ngột im bặt, không còn tiếng thở đều nữa. Chị cảm thấy hai bàn tay nhỏ xíu của nó, đang lỏng ra, bỗng siết lại trên vai chị.
Ngoài kia, trên đỉnh núi phía bắc, mây đã kéo đến che mất mấy ngôi sao cuối cùng.