Sân kho hợp tác xã nằm trên một quả đồi bạt, nền láng vôi trộn đất sét, ngày mùa phơi thóc vàng rực, còn tối nay thì trơ ra dưới hai ngọn đèn bão treo trên cột tre. Gió từ khe núi thổi ngang qua, làm hai ngọn lửa nghiêng một bên, kéo bóng người dài loang lổ trên nền sân như vệt mực đổ.
Duyên đứng ở rìa đám đông, lưng địu thằng Út trong cái địu vải chàm cũ của mẹ. Thằng bé nhẹ bẫng. Nhẹ đến mức chị phải thỉnh thoảng nghiêng đầu nghe xem nó còn thở không.
Cả xóm Thanh Sơn đã kéo đến gần đủ. Đàn ông ngồi xổm hút thuốc lào, điếu cày chuyền tay nhau kêu ròn rọt. Đàn bà túm năm tụm ba, tay vẫn không rời việc, người đánh sợi gai, người tẽ ngô. Trẻ con chạy lăng xăng giữa những bao tải thóc đã cân xong, xếp thành hàng dọc theo vách kho. Mùi thóc mới, mùi khói thuốc, mùi mồ hôi người làm cả ngày chưa kịp tắm, trộn vào nhau.
Bà lão sáu mươi ba tuổi trong thân con bé chín tuổi đứng nhìn tất cả những thứ ấy và thấy cổ họng mình đắng ngắt.
Kiếp trước, cũng tối nay, cũng sân kho này, mẹ chị đứng ở đúng chỗ này. Chủ nhiệm Lực đọc khoản bồi thường sáu trăm đồng, mẹ chị cúi đầu cảm ơn, cầm tiền về, không nói thêm được một câu. Khăn tang của bố chưa kịp tháo, mẹ đã phải chít thêm khăn cho con, vì sáng hôm ấy người ta vừa chôn thằng Út cạnh mộ bố. Ai cũng khen nhà ông Ba Tam được tập thể lo chu đáo. Ba tháng sau tiền hết. Mùa đông năm ấy mẹ đi gánh đất thủy lợi với một bụng đói, nhiễm lạnh, về nhà mang theo tiếng ho mà vẫn không dám nghỉ một ngày vì sợ mất công điểm.
Sáu trăm đồng nghe thì to. Bằng mấy năm công điểm của một người làm quần quật. Nhưng chị đã sống đủ lâu để biết một khoản tiền một lần thì tiêu một lần là hết. Thứ nhà chị cần không phải một nắm tiền. Thứ nhà chị cần là một cái gì đó chảy đều, năm này qua năm khác, cho đến khi những đứa trẻ này đủ lớn.
"Chị Cả," thằng Mạnh huých khuỷu tay vào sườn chị. "Họ sắp đọc đấy."
Chị gật đầu, không quay lại. "Nhớ chị dặn gì chưa?"
"Nhớ rồi." Nó nuốt nước bọt. "Chị quỳ thì em quỳ. Chị không nói thì em không nói."
"Còn mày?" Chị nghiêng sang thằng Thành.
Thằng Thành năm tuổi bám vạt áo mẹ, mắt mở to tròn như mắt nai. "Em khóc," nó thì thào. "Khóc to."
"Không phải khóc to. Khóc thật. Mày nhớ bố thì mày khóc."
Môi thằng bé méo đi ngay. Chị đặt tay lên đầu nó, xoa một cái, rồi thôi.
Mẹ Hương đứng cạnh, hai tay đan vào nhau, ngón cái chà lên chà xuống mu bàn tay như muốn tróc một lớp da. Mẹ vẫn chưa hiểu con gái định làm gì. Chiều nay khi chị bảo "lát nữa ra sân kho, con quỳ thì mẹ quỳ theo", mẹ chỉ nhìn chị như nhìn người lạ. Nhưng mẹ không cãi. Mấy ngày nay mẹ không cãi ai điều gì. Mẹ như một cái cây bị chặt gốc, còn đứng được là vì chưa có cơn gió nào xô.
Chủ nhiệm Lực bước ra giữa sân, đứng trên bậc thềm kho. Anh ta ngoài bốn mươi, người vuông vức, áo bộ đội cũ bạc màu, tay áo xắn đến khuỷu. Bên cạnh là bác Hai Nghĩa, kế toán, ôm một cuốn sổ bìa cứng, kính trễ xuống sống mũi. Bí thư chi bộ ngồi trên cái ghế đẩu cạnh cửa kho, im lặng hút thuốc.
Chủ nhiệm Lực đọc số thóc chia theo công điểm trước. Từng tên chủ hộ được xướng lên, từng con số. Có tiếng xì xào khi nhà này hơn nhà kia mấy cân, có tiếng cười khi ai đó bị trêu là "lười mà vẫn béo". Duyên nghe mà không nghe. Chị đếm từng nhà. Còn bảy nhà. Còn năm. Còn ba.
"Hộ Tô Văn Tam," chủ nhiệm Lực dừng lại, giọng trầm xuống. "Đồng chí Tam đã hy sinh trong lúc lao động sản xuất. Ban quản trị hợp tác xã đã họp, thống nhất ngoài phần thóc chia theo công điểm, hợp tác xã trích quỹ bồi thường cho gia đình sáu trăm đồng, để chị Hương và các cháu có cái mà qua mùa đông."
Sân kho lặng đi một nhịp. Rồi tiếng xì xào nổi lên như ong vỡ tổ. Sáu trăm! Có người huýt một tiếng khẽ.
Đúng lúc ấy, Duyên bước ra.
Chị không đi nhanh. Chị đi chậm, thẳng, ra đến giữa khoảng sân trống trước bậc thềm, nơi ánh đèn bão sáng nhất. Rồi chị quỳ xuống.
Nền sân lạnh buốt xuyên qua lớp quần vải mỏng, lạnh đến tê cả xương bánh chè. Chị nghe sau lưng tiếng đầu gối thằng Mạnh đập xuống nền, rồi tiếng thằng Thành sụt sịt khi quỳ cạnh anh. Thằng Út trong địu cựa mình một cái, im.
Chị không quay lại xem mẹ. Chị chỉ đếm. Một. Hai. Ba.
Đến nhịp thứ tư thì chị nghe tiếng sột soạt của vạt áo, và mẹ chị quỳ xuống bên cạnh.
"Chúng cháu đội ơn hợp tác xã," Duyên nói. Giọng chị không to, nhưng sân kho đã im đến mức nghe rõ cả tiếng bấc đèn lách tách. "Đội ơn các bác, các chú trong ban quản trị. Bố cháu đi rồi, nhà cháu không còn ai là đàn ông. Mẹ cháu một mình, bốn chị em cháu đứa lớn nhất là cháu, chín tuổi."
Chị dừng lại. Không phải vì nghẹn. Chị dừng vì người ta cần một quãng lặng để thấm cái con số ấy: chín tuổi.
Ở đâu đó trong đám đông, chị nghe tiếng một bà thở dài.
Chủ nhiệm Lực nhíu mày, bước xuống một bậc. "Cháu Duyên, đứng lên. Đứng lên rồi nói. Hợp tác xã lo cho nhà cháu, có ai bắt quỳ đâu."
Duyên không đứng.
Chị biết anh ta là người tốt. Kiếp trước, khi mẹ chị nằm liệt, chính anh ta là người vác bao gạo sang. Nhưng người tốt cũng có cái sổ phải giữ, cái quỹ phải chia, và có cả trăm hộ khác cũng nghèo, cũng đói, cũng đang nhìn vào. Nếu chị đứng lên nói chuyện tử tế như một đứa trẻ ngoan, anh ta sẽ xoa đầu chị, bảo "rồi ban quản trị sẽ xem xét", và chuyện sẽ chìm như hòn đá ném xuống suối.
Quỳ giữa sân, trước cả xóm, thì khác. Không ai muốn là người bảo một nhà mẹ góa con côi đứng dậy mà về tay không.
Chị cảm thấy có ai đó đến gần. Một bàn tay đặt lên vai mẹ chị. Chị liếc sang: là chị Chu, hội trưởng Hội Phụ nữ, người tối tối vẫn đọc loa đầu xóm. Chị Chu cúi xuống như để đỡ mẹ dậy, nhưng Duyên nghe thấy chị ấy thì thầm rất nhanh vào tai mẹ:
"Khóc đi em. Khóc cho to vào. Đừng có nín."
Mẹ Hương ngước lên nhìn chị Chu, ngơ ngác. Rồi như có cái nút nào đó trong người mẹ bị gỡ ra, mẹ òa khóc.
Không phải tiếng khóc lặng lẽ mấy hôm nay. Đây là tiếng khóc bị dồn nén từ hôm người ta khiêng bố về trên cái cáng tre, tiếng khóc của người đàn bà hai mươi chín tuổi một mình với bốn đứa con và một cái nhà tranh dột. Mẹ khóc gục xuống nền sân, hai vai rung bần bật. Thằng Thành thấy mẹ khóc thì khóc theo, khóc thật, khóc gọi "bố ơi". Thằng Mạnh cắn môi đến trắng bệch, nước mắt chảy ròng mà không ra tiếng.
Duyên quỳ thẳng lưng giữa những tiếng khóc ấy. Chị không khóc. Kiếp trước chị đã khóc đủ cho một đời. Kiếp này chị cần đôi mắt khô để nhìn cho rõ.
Chị nhìn thấy chị Chu đứng thẳng lên, quay về phía ban quản trị, không nói gì, chỉ khoanh tay. Chị nhìn thấy mấy bà đứng gần lấy vạt áo chấm mắt. Chị nhìn thấy bác Hai Nghĩa đẩy kính lên, cúi xuống sổ, như đang tính gì đó. Chị nhìn thấy chủ nhiệm Lực đứng giữa bậc thềm, hai tay buông thõng, không biết nên tiến hay lùi.
Tốt. Cứ để anh ta khó xử thêm một lúc.
"Ối giời, khóc cũng phải có bài có bản."
Giọng the thé ấy cất lên từ phía bên trái, chỗ mấy bao thóc xếp chồng. Duyên không cần quay lại cũng biết là ai. Thím Mã, mẹ thằng Bảo béo, cái loa sống của xóm dưới.
"Ba đứa khóc như đưa ma, còn thằng út kia thì sao?" Thím Mã hất hàm về phía cái địu trên lưng Duyên. "Bố chết mà nó ngồi trơ ra như khúc gỗ. Ngốc thì vẫn là ngốc, bố chết cũng chẳng biết đường mà khóc. Nuôi làm gì cho tốn, sáu trăm đồng ấy còn..."
Có vài tiếng cười gượng. Có người suỵt.
Duyên thấy máu dồn lên mặt. Bà lão trong chị muốn đứng phắt dậy, quay sang mà nói cho cái mồm ấy một trận. Chị biết cả đời thím Mã, biết cả cái vụ mấy năm nữa thím ta lén xúc thóc giống của đội bị bắt quả tang. Chị có đủ chữ trong đầu để làm thím ta bẽ mặt trước cả xóm.
Nhưng chị đang quỳ. Đứng dậy cãi nhau lúc này thì bao nhiêu công sức đổ xuống sông.
Chị nghiến răng. Và đúng lúc ấy, trên lưng chị, thằng Út động đậy.
Ban đầu chỉ là một tiếng nấc. Nhỏ, nghẹn, như có cái gì mắc ở cổ. Rồi một tiếng nữa. Rồi chị cảm thấy cái đầu bé xíu ấy gục vào gáy mình, và hơi ấm ươn ướt thấm qua lớp áo.
Thằng Út khóc.
Không phải tiếng khóc ré lên của trẻ con đòi bú. Nó khóc không thành tiếng, chỉ có hơi thở đứt quãng, và hai bàn tay gầy như que củi bấu chặt vào vai chị, bấu đến đau. Chị nghiêng đầu, thấy một bên má nó ướt đẫm, đôi mắt nhắm nghiền, và trên khuôn mặt ba tuổi ấy có một thứ gì đó chị chưa từng thấy ở đứa trẻ nào. Không phải sợ. Không phải đói. Giống như nó đang khóc cho một chuyện đau đớn đã xảy ra từ lâu lắm, và bây giờ mới được khóc.
Sân kho lặng đi.
Một bà già đứng gần đó, Duyên nhận ra là bác Tôn gái, mắt còn sưng từ hôm cầm tờ giấy báo tử của con trai, khẽ nói: "Trời ơi, thằng bé biết đấy chứ. Nó biết bố nó không về nữa."
Câu ấy rơi xuống giữa sân như hòn đá rơi xuống ao.
Thím Mã há miệng định nói gì, rồi khép lại. Mấy người đứng quanh thím quay đi, có người lắc đầu. Bà cụ nào đó lẩm bẩm "ác mồm ác miệng, giời trông thấy". Thím Mã đứng thêm một lúc giữa những cái lưng quay về phía mình, rồi kéo tay thằng Bảo béo, lùi dần vào bóng tối sau đống bao thóc.
Duyên đưa tay ra sau, vỗ nhẹ lên mông em qua lớp địu. Một cái. Hai cái. Như mẹ vẫn vỗ cho chị ngủ ngày xưa.
"Út ngoan," chị thì thầm, không biết là nói với em hay với chính mình. "Út hiểu chuyện thế. Ngoan."
Thằng bé không đáp. Nó vẫn gục vào gáy chị, hơi thở dần đều lại.
Kiếp trước chị không kịp thấy thằng Út khóc như thế. Kiếp trước, nó lịm đi ngay trong đêm sau đám bố, không khóc, không kêu, sáng ra người đã lạnh. Đứa em đang bấu vào vai chị lúc này thì khác. Từ hôm nó mở mắt, chị đã thấy nó khác. Nó nhìn người như người lớn nhìn. Nó ăn từng thìa canh chậm rãi như đang nếm. Và bây giờ nó khóc, đúng lúc, như thể nó nghe hiểu từng chữ cái mồm kia nói.
Có lẽ trận sốt làm nó tỉnh ra. Chị từng nghe người ta bảo có những đứa trẻ chậm, qua một trận ốm thập tử nhất sinh thì bỗng sáng dạ. Có lẽ thế.
Chị không có thời gian nghĩ tiếp. Trên bậc thềm, chủ nhiệm Lực đã bước xuống hẳn, đến trước mặt mẹ con chị, ngồi xổm xuống cho ngang tầm mắt.
"Cháu Duyên," anh ta nói, lần này giọng khàn hẳn. "Cháu nói chú nghe. Nhà cháu cần gì?"
Duyên ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt anh ta. Ở phía sau, chị thấy bác Hai Nghĩa đã gập cuốn sổ, ngón tay vẫn kẹp ở một trang.
Chị hít một hơi. Gió từ khe núi thổi qua sân, mang theo hơi sương muối, làm hai ngọn đèn bão chao đi, và bóng của cả nhà chị, năm cái bóng quỳ sát vào nhau, run lên trên nền sân như một ngọn lửa nhỏ không chịu tắt.