Nồi canh đặt giữa nhà, trên cái kiềng ba chân đen bóng, bốc hơi nghi ngút.
Lúc khách về hết, chị Cả mang nửa rá sắn khô người ta để lại ra rửa, chặt khúc, thả vào nồi canh khoai còn lại lúc chiều, đun thêm một lửa. Nước canh vàng sẫm giờ đục như nước gạo, lổn nhổn những khúc sắn trắng và mấy miếng khoai đã nát. Cả nhà có năm người, năm cái bát, không cái nào lành nguyên.
Dụ được bế ngồi dựa vào lòng thằng Thành. Thằng bé năm tuổi ôm chàng bằng hai cánh tay gầy như que củi, ôm chặt quá, chàng muốn bảo nó nới ra mà không biết nói thế nào cho ra giọng trẻ con.
Chị Cả cầm cái muôi gáo dừa. Mẹ đưa tay định đỡ lấy, như mọi bữa.
"Mẹ ngồi đấy," chị Cả nói.
Mẹ ngẩn ra. Chị Cả không đợi mẹ đáp. Con bé múc một muôi đầy, vớt hết những khúc sắn to nhất, những miếng khoai còn nguyên, đổ vào cái bát men xanh sứt miệng, rồi đặt trước mặt mẹ.
"Bát này của mẹ."
"Mẹ ăn ít thôi, các con…"
"Mai mẹ phải ra sân kho. Mẹ mà ngã ở đấy thì ai đỡ?" Chị Cả nói, tay vẫn múc. Bát thằng Mạnh, bát thằng Thành, mỗi bát hai khúc sắn, một miếng khoai, lưng lửng nước. Bát của Dụ chỉ toàn khoai nghiền nát với nước canh, không có sắn. Bát cuối cùng của chị chỉ có nước, hai khúc sắn nhỏ và mấy vụn khoai.
Mẹ nhìn bát mình, rồi nhìn bát con gái, mắt lại đỏ lên. Mẹ cầm đũa định gắp sang.
"Mẹ gắp sang thì con đổ đi đấy," chị Cả nói, không ngẩng đầu.
Thằng Mạnh há miệng nhìn chị. Thằng Thành rụt cổ. Mẹ ngồi im một lúc, rồi cúi xuống ăn, vừa ăn vừa lau mắt bằng vạt áo.
Dụ nhìn cảnh ấy qua làn hơi canh và ghi lại.
Con bé này không chia đều. Nó chia theo việc. Người phải gánh nặng nhất được ăn nhiều nhất. Người yếu nhất được ăn thứ dễ nuốt nhất. Còn nó thì nhận phần ít nhất, và làm như thế là lẽ đương nhiên. Ở Đông cung, chàng đã thấy những viên quan coi kho lương bao năm vẫn không hiểu được điều đơn giản đó.
Chị Cả bón cho chàng từng thìa. Chàng không mím môi nữa.
Khoai nghiền với nước canh, chỉ có muối, không mỡ, không hành. Vậy mà vừa chạm lưỡi, Dụ đã thấy một vị ngọt dịu, ấm, bùi bùi lan ra khắp miệng. Chàng nuốt rồi mà vị ấy còn đọng lại ở cuống họng, như nắng chiều còn đọng trên mái nhà sau khi mặt trời đã lặn.
Chàng ngạc nhiên. Ngự thiện phòng từng dâng chàng những món mà mười người đầu bếp phải làm từ đêm hôm trước. Chưa món nào khiến chàng muốn ăn thêm một thìa như thế này.
Có lẽ vì cái thân này đói. Có lẽ vì củ khoai mọc ở thứ đất này. Có lẽ, chàng nghĩ, vì không ai phải nếm trước nó cho chàng.
Chàng nuốt hết thìa thứ năm thì ợ một cái. Thằng Thành cười khúc khích. Chị Cả cũng mỉm cười, lần đầu tiên trong ngày.
Dụ cúi mắt. Nhân lúc mọi người không để ý, chàng nghĩ kỹ về những gì phải làm.
Cái thân này ba tuổi, yếu như cọng rơm. Trong ký ức của đứa trẻ cũ, nó chậm nói, ít cười, hay ngồi một chỗ nhìn trời. Con nít trong xóm gọi nó là thằng ngốc. Người lớn thương hại nó. Nếu bây giờ nó bỗng nói năng rành rọt, nhìn người như người lớn nhìn, thì cả cái xóm này sẽ xì xào. Người ta sẽ bảo nó bị ma nhập, bị thánh nhập. Người ta sẽ đưa nó đi cúng, đi bắt vía.
Hơn thế. Ở Đông cung, chàng đã học được một điều bằng cái giá rất đắt: người nhìn rõ nhất là người không ai đề phòng. Bọn hoạn quan biết nhiều hơn tể tướng, vì không ai buồn hạ giọng khi chúng đứng hầu. Một thằng bé ngốc ốm yếu nằm trong ổ rơm cũng vậy. Người ta sẽ nói trước mặt nó những điều không bao giờ nói trước mặt người khác.
Vậy thì cứ làm thằng ngốc. Cứ yếu, cứ chậm, cứ nằm. Nhìn cho kỹ cái nhà này, cái xóm này, rồi hẵng tính.
Chàng ợ thêm một cái nữa. Lần này thằng Mạnh cũng bật cười.
Bát vừa cạn thì có tiếng gõ cửa.
Ba tiếng, chậm, đều, không vội. Không phải kiểu gõ của người đến đòi nợ, cũng không phải kiểu đập cửa của người mang tin dữ.
"Thím Ba có nhà không? Tôi, Nghĩa đây."
Mẹ vội lau mặt, đứng dậy. Chị Cả nhanh hơn, đã ra kéo then.
Người bước vào là một ông chừng ngoài bốn mươi, dáng gầy, lưng hơi gù, mặc áo bông xanh bộ đội cũ đã bạc màu ở hai vai. Ông xách một cái đèn bão, tay kia kẹp một cuốn sổ bìa cứng sờn góc. Trên sống mũi là cặp kính gọng đen, một bên càng gãy, buộc lại bằng sợi chỉ khâu.
Ký ức của đứa trẻ cũ nhận ra ông ngay: bác Hai, anh thứ hai của bố, bố của cu Tũn. Bác làm kế toán ở hợp tác xã, biết chữ nhiều nhất xóm, mỗi lần gặp đứa trẻ thì xoa đầu và cho một miếng đường phèn.
Bác Hai đặt đèn xuống hiên, vào thắp một nén hương cho em trai. Bác đứng trước bàn thờ lâu hơn những người khác, môi mấp máy. Rồi bác quay ra, kéo một cái ghế đẩu thấp ngồi xuống cạnh bếp, thấp hơn chỗ mẹ ngồi một chút.
Dụ để ý điều ấy. Ở triều, kẻ đến báo tin bao giờ cũng tìm chỗ đứng cao hơn người nghe.
"Thằng Út đỡ chưa thím?"
"Dạ, chiều nay nó tỉnh rồi bác ạ. Ăn được rồi."
Bác Hai nhìn sang chàng, gật đầu, không nói thêm. Rồi bác mở cuốn sổ ra đặt trên đầu gối, nhưng không đọc. Bác nói, giọng đều đều như đang đọc sổ, nhưng chậm, để mẹ kịp nghe.
"Tôi sang báo thím mấy việc. Tối mai, xong việc đồng, hợp tác xã chia thóc vụ mùa ở sân kho, theo công điểm. Công điểm của chú Tam năm nay tôi đã tính rồi, chú ấy làm nhiều, cả công gặt đêm cũng ghi đủ. Thím cứ ra nhận, không thiếu một hạt."
Mẹ gật đầu, cảm ơn rối rít.
"Việc thứ hai." Bác Hai ngừng một chút, gỡ kính ra lau vào vạt áo. "Chiều nay ban quản trị họp. Chú Tam mất trong lúc đang làm cho tập thể, nên hợp tác xã có trách nhiệm. Chủ nhiệm Lực đề nghị bồi thường cho nhà thím sáu trăm đồng. Mai sẽ công bố trước xã viên ở sân kho."
Sáu trăm đồng. Dụ không biết sáu trăm đồng là bao nhiêu ở đời này. Nhưng chàng thấy mẹ đưa tay lên che miệng, và thấy chị Cả, đang ngồi xổm cạnh bếp, khẽ siết hai bàn tay lại.
"Thím ạ." Bác Hai đeo kính vào, nhìn thẳng mẹ. "Sáu trăm là ban quản trị tính theo lệ. Nhưng nhà thím có bốn đứa, đứa lớn nhất mới chín tuổi. Thím là lao động chính duy nhất. Mùa đông này lại sắp đi thủy lợi." Bác hạ giọng. "Mai ra sân kho, thím đừng chỉ cúi đầu mà nhận. Có khó khăn gì, thím cứ mạnh dạn nói ra trước bà con. Ban quản trị cũng là người, trước mặt cả xóm thì khó mà làm ngơ."
Mẹ ngơ ngác. "Em… em biết nói gì hả bác?"
Bác Hai không đáp ngay. Bác liếc sang chị Cả, rất nhanh, như thể đoán được con bé đang nghĩ gì. "Cứ nói cái nhà mình thiếu. Thiếu gì nói nấy. Tôi là kế toán, tôi không đứng ra nói thay thím được. Nhưng thím nói đúng thì tôi ghi."
"Bác ơi," chị Cả bỗng lên tiếng. "Công điểm của bố cháu năm nay tất cả là bao nhiêu ạ?"
Bác Hai quay lại nhìn con bé. Dụ thấy trong mắt ông thoáng ngạc nhiên. Rồi ông mở sổ, dò ngón tay theo một cột số, và đọc ra một con số cụ thể, không làm tròn, không bảo "trẻ con biết gì mà hỏi".
Chị Cả lẩm nhẩm con số ấy hai lần, như để nhớ.
Trước khi về, bác Hai rút từ trong túi áo bông ra một cái ống bơ sữa bò cũ, nắp buộc dây chun, đặt lên mép bếp.
"Bác gái gửi. Ít gạo tám, để nấu cháo cho thằng Út."
Mẹ đẩy lại. Bác Hai đứng dậy, cầm đèn bão, như không nghe thấy. "Nhà tôi còn. Thím cứ để cho cháu."
Dụ nằm nhìn cái ống bơ trên mép bếp. Nó nhỏ, cùng lắm vài lạng gạo.
Chàng nhớ đến những viên quan đến Đông cung chầu chàng mỗi dịp Tết. Họ mang lễ vật đầy kiệu, nói những lời dài như sớ, hứa hẹn những điều to như núi. Rồi khi tờ chiếu phế được đọc lên, không một ai trong số họ đứng ra nói nửa lời.
Người đàn ông này thì không hứa gì cả. Ông nói những việc ông làm được, nói rõ những việc ông không làm được. Ông ngồi thấp hơn người góa phụ. Ông trả lời con số cho một đứa con gái chín tuổi như trả lời một xã viên. Và ông để lại vài lạng gạo mà chính nhà ông cũng chưa chắc dư.
Dụ xếp ông vào một ngăn trong đầu, ngăn mà ở kiếp trước chàng chỉ đặt vào đó vài cái tên: những người có thể tin được. Chưa phải tin hết. Nhưng có thể tin.
Chị Cả tiễn bác Hai ra tận hiên. Chàng nghe con bé nói nhỏ một câu gì đó, nghe bác Hai ừ một tiếng, rồi tiếng bước chân đi xa.
Con bé quay vào, không nói gì với ai. Nó nhặt một mẩu than nguội trong bếp, đến chỗ vách đất sau cột, chỗ dán tờ báo cũ, và viết lên đó mấy nét. Một con số, có lẽ. Những nét cong cong, tròn tròn, chẳng giống chữ số nào chàng từng học. Viết xong, nó đứng nhìn mấy nét than ấy một lúc lâu, môi mím lại, như một viên quan hộ bộ đứng trước sổ thuế của một năm mất mùa.
Mẹ hỏi: "Con viết gì đấy?"
"Con ghi lại, kẻo quên," chị Cả đáp. "Mai còn phải nói."
Dụ nhìn những nét than trên vách. Chàng thầm nhủ, việc đầu tiên phải học ở đời này là thứ chữ ấy.
Qua khe vách, ánh đèn bão của bác Hai vẫn còn lắc lư dưới con dốc đầu ngõ. Hai bên dốc, những bụi cỏ tranh đã bắt đầu trắng mờ. Sương muối đang xuống, phủ lên rặng tre, lên mái rơm, lên cái xóm nhỏ nằm im dưới chân núi. Ngọn đèn nhỏ dần, nhỏ dần, rồi khuất hẳn sau khúc quanh.
Trên mép bếp, cái ống bơ gạo vẫn còn ấm hơi tay người.