Má Dụ vẫn còn ướt, và chàng ghét điều đó.
Hai mươi năm ở Đông cung, chàng chưa từng khóc trước mặt ai. Ngày ra trận lần đầu, thấy người lính hầu chết gục trên lưng ngựa, chàng không khóc. Ngày triều đình bàn việc phế lập, mẹ chàng ngồi sau rèm điện Kính Thiên nghe trọn buổi, không bước ra lấy một bước, chàng cũng không khóc. Vậy mà vừa rồi, chỉ vì một mụ đàn bà chua ngoa gọi chàng là "thằng ngốc", chỉ vì câu "bố chết cũng chẳng biết đường mà khóc", mà cái lồng ngực ba tuổi này vỡ ra như bình gốm rơi.
Không phải vì người cha họ Tô mà chàng chưa từng gặp. Chàng biết rõ thế. Lúc ấy, trong đầu chàng là gương mặt mẹ sau tấm rèm lụa, là đứa em trai mười hai tuổi đứng hầu bên cạnh vua cha, mắt nhìn xuống đất, khóe miệng giấu một nét gì đó chàng đã không chịu nhìn cho kỹ. Người ta khóc cha mình. Chàng thì khóc vì đã có mẹ, có em, mà sống như không có.
Cái thân thể này không giữ được nước mắt. Nó nhỏ quá, yếu quá, cái gì đến cũng tràn ra hết.
Nhưng chàng cũng thấy cái giá trị của những giọt nước mắt ấy. Mụ đàn bà kia đã lùi vào bóng tối. Cả sân kho đã đổi chiều. Và con bé đang cõng chàng, đứa chị chín tuổi có đôi mắt khô và cái lưng thẳng như cây sào, đã vỗ lên người chàng mà gọi "Út hiểu chuyện".
Dụ thấy cái vỗ ấy ấm. Chàng ghi nhận nó, rồi cất đi, như cất một bản tấu chưa phê.
Bây giờ chàng đang nhìn người đàn ông vừa bước ra giữa sân.
Bác Cả Tô Văn Đại. Ký ức của đứa trẻ cũ chỉ còn lại về người này mấy mảnh vụn: một cái bóng to đứng ở cửa, một lần cho nắm lạc rang, một lần quát vì thằng bé nghịch đất trước sân nhà bác. Phần còn lại, Dụ phải tự đọc.
Mà đọc người thì chàng không cần đến ký ức của ai.
Áo đại cán cài kín cổ. Khăn tang chít gọn, nếp vuông vức, như vừa quấn lại trước khi ra khỏi nhà. Hai tay chắp sau lưng. Đứng chếch về phía ánh đèn, để cả sân thấy được nửa khuôn mặt nhăn lại vì thương xót. Cái dáng ấy chàng đã thấy hàng trăm lần trên điện, ở những vị đại thần bước ra khỏi hàng mà tâu "thần có tội", để rồi cái tội ấy chẳng bao giờ phải chịu, còn câu nói thì được cả triều ghi nhớ.
"Em tôi mất đi," bác Cả nói, giọng chùng xuống, "để lại em dâu với bốn cháu nhỏ. Tôi là anh cả, lẽ ra phải lo trước tiên. Nhà tôi tuy chẳng khá giả gì, nhưng anh em ruột thịt, không lẽ lại để tập thể gánh thay. Khoản sáu trăm đồng thì hợp tác xã đã cho, chúng tôi đội ơn. Còn khoai, còn rau, còn học hành của các cháu, xin chủ nhiệm cứ để nhà tôi lo. Đỡ được cho tập thể phần nào hay phần ấy."
Có tiếng tán thưởng nho nhỏ trong đám đông. "Ông Đại tử tế thật." "Anh em thì phải thế."
Dụ không nhìn đám đông. Chàng nhìn vào hai bàn tay chắp sau lưng bác Cả.
Chúng không yên. Ngón cái tay phải cứ miết vào đốt ngón trỏ tay trái, đều đặn, như người đếm tiền. Lời nói thì thong thả, mà tay thì vội. Và đôi mắt thương xót kia, khi lướt qua mẹ Hương đang ngồi bệt dưới đất, không dừng lại ở mặt mẹ. Nó dừng lại ở bàn tay mẹ, chỗ mẹ đang nắm chặt mép vạt áo, như muốn biết trong đó có giữ thứ gì không.
Người này không đến để cho. Người này đến để giữ cửa.
Chàng chưa biết cửa gì. Nhưng chàng biết rõ một điều: kẻ nào xin "tự lo" cho một nhà mẹ góa con côi trước mặt cả làng, thì kẻ ấy muốn nhà mẹ góa con côi kia phải mở cửa cho mình vào bất cứ lúc nào. Trong cung, người ta gọi đó là "nhận phần giám hộ". Năm đứa em trai của chàng ra đời, đã có ba vị thân vương xin được "giám hộ" nó.
Con bé đang cõng chàng hít vào một hơi rất sâu. Dụ cảm thấy cái lưng gầy ấy căng lên, rồi thả lỏng ra, và chàng biết chị sắp nói.
"Bác Cả ơi," Duyên nói. Giọng chị ngọt như mía lùi. "Bác thương chúng cháu thế, cháu mừng quá."
Bác Cả mỉm cười hiền hậu, gật đầu.
"Thế thì từ mai," chị nói tiếp, cũng bằng cái giọng ngọt ấy, "bốn chị em cháu sang nhà bác ăn cơm. Sáng một bữa, tối một bữa, cháu không dám xin bữa trưa. Đầu năm học bác đóng tiền học cho cả bốn đứa. Mùa đông này em Út cháu còn yếu, bác cho em cháu mượn cái chăn bông nhà bác. Mẹ cháu đi thủy lợi thì cháu đưa các em sang ngủ nhờ nhà bác, cho ấm."
Sân kho chết lặng một khắc. Rồi có ai đó bật cười, rồi một người nữa. Tiếng cười lan ra, khẽ khàng mà rõ ràng như tiếng mưa rào đầu mùa trên mái tranh.
Bác gái Cả là người phản ứng đầu tiên. Bà ta bước vội lên nửa bước, giọng the thé: "Ơ kìa, con bé này! Nhà bác còn sắp lo cưới vợ cho anh Nghiệp, lấy đâu ra mà..." Rồi bà ta tự cắn lưỡi, nhưng đã muộn. Chữ "lấy đâu ra" rơi xuống giữa sân, rõ như hòn sỏi.
Bác Cả không quay lại nhìn vợ. Nhưng Dụ thấy gáy bác đỏ lên, và hai bàn tay sau lưng đột ngột ngừng miết.
"Cháu nói thế là không phải," bác Cả nói. Giọng vẫn ấm, nhưng đã mất đi cái âm vực thong thả. "Bác lo cho các cháu thì bác lo theo sức bác. Còn chuyện ăn chuyện ở thì…"
"Thì nhà cháu tự lo," Duyên đỡ lời, rất nhanh, rất lễ phép. "Cháu hiểu rồi ạ. Vậy cháu vẫn xin chú chủ nhiệm với hợp tác xã như cháu đã thưa, để bác Cả khỏi phải khó nghĩ."
Dụ suýt bật cười. Chàng phải gục mặt vào gáy chị để giấu.
Con bé này không cãi lại bác nó một câu nào. Nó nhận lời ngay, nó cảm ơn, nó còn đòi thêm. Và chính vì nó nhận lời quá thật, nên cái lời hứa suông kia vỡ ra ngay trước mặt cả xóm. Ở triều chàng, có một vị lão thần làm ngự sử ba mươi năm, cả đời chỉ dùng mỗi một ngón ấy: không bao giờ bác lời ai, chỉ bảo "vậy xin ngài làm ngay cho". Ông ta là người duy nhất trong triều mà các thân vương phải kiêng.
"Ông Đại," một giọng khàn khàn cất lên từ bậc kho.
Đó là một ông lão tóc trắng như cước, lưng còng, ngồi trên bậc đá từ đầu buổi đến giờ, hai tay chống lên cây gậy song. Người trong xóm gọi ông là cụ Vũ. Ký ức đứa trẻ cũ nhớ ông qua mùi thuốc lá sợi và những lần ông xoa đầu nó ở đầu ngõ.
"Tôi già rồi, nói câu này các anh các chị đừng chấp," cụ Vũ nói. "Bố ông, cụ Tô, lên Thanh Sơn này từ hồi xóm còn chưa đủ mười nóc nhà. Một mình một con ngựa thồ, đi buôn muối buôn vải qua mấy cái đèo, rồi phát rừng dựng nhà ở chân đồi. Cụ dựng ba cái nhà cho ba con trai, chia đất cho từng người, đâu ra đấy. Cụ hay nói với tôi: 'Nhà họ Tô không để con cháu đi xin.' Người ta còn đồn cụ có của, chẳng biết thật giả thế nào, cụ đi đột ngột quá, chẳng dặn ai được câu gì."
Cụ dừng lại, ho mấy tiếng, rồi chỉ cây gậy về phía mấy mẹ con đang quỳ.
"Cụ Tô mà còn sống, thấy cháu nội cụ quỳ giữa sân kho thế này, chắc cụ đội mồ dậy."
Không ai cười nữa.
Dụ không nhìn cụ Vũ. Chàng nhìn bác Cả. Khi cụ Vũ nói đến chữ "của", hàm bác bạnh ra một chút, rất nhanh, rồi giãn lại. Khi cụ nói "chẳng dặn ai được câu gì", mí mắt bác hạ xuống.
Người đã được dặn thì nghe câu ấy mới cụp mắt.
Rồi bác Hai Nghĩa, vẫn đứng sau chủ nhiệm Lực, nói thêm một câu như vô tình: "Đêm chú Tam ngã ở thửa Đồng Mỏ, anh Đại cũng làm ca trên thửa trên ấy, có phải không anh? Lúc khiêng chú Tam về tôi thấy anh đi sau."
Bác Cả đáp ngay: "Phải, tôi có ở đấy. Đêm tối, tôi chẳng nhìn thấy gì."
Lời đáp trơn tru. Nhưng Dụ thấy khi nói câu ấy, bác Cả quay đầu đi. Không phải về phía bác Hai, cũng không phải về phía đám đông. Bác quay về phía ngược lại với cánh đồng dưới chân đồi, nơi thửa ruộng Đồng Mỏ chìm trong bóng tối. Cả sân ai cũng vô thức liếc về phía ấy khi nghe nhắc đến đêm hôm đó. Chỉ có bác Cả là quay đi, như thể ở hướng kia có thứ gì đang nhìn lại bác.
Dụ đã gặp cái quay đầu ấy một lần. Ở Đông cung, năm chàng mười bảy tuổi, một viên thái giám coi bếp bị hỏi đến đêm vị lương đệ trúng độc. Hắn cũng trả lời trơn tru, rồi quay mặt đi khỏi hướng nhà bếp. Mười ngày sau người ta tìm thấy hắn trong giếng.
Chàng cất chi tiết ấy vào cạnh những chi tiết khác chàng nghe được hôm lễ viếng: môi tím, nôn thốc nôn tháo, ca gặt đêm. Chàng chưa xếp được chúng thành hàng. Nhưng chàng đã biết, từ lúc này, rằng chúng thuộc cùng một bản tấu.
Chủ nhiệm Lực không để bác Cả nói thêm. Anh ta quay về phía bí thư chi bộ, hai người trao đổi mấy câu khẽ. Rồi anh ta đứng thẳng lên trên bậc thềm, giọng vang khắp sân.
"Ban quản trị thống nhất: ngoài sáu trăm đồng bồi thường, hộ chị Lưu Thị Hương mỗi năm được thêm ba tạ khoai lang lúc chia vụ, được cấp một luống rau ở vườn tập thể bên kia suối, bốn cháu được đề nghị xã miễn học phí. Áp dụng đến khi cháu Duyên đủ mười lăm tuổi. Bà con có ai ý kiến gì không?"
Không ai ý kiến. Chị Chu vỗ tay trước, rồi cả sân vỗ tay theo, rời rạc mà thật. Bác Tôn gái đỡ mẹ Hương đứng dậy. Anh Mạnh kéo anh Thành lên, phủi đầu gối cho em.
Duyên là người đứng lên cuối cùng. Chị cúi đầu thật sâu về phía ban quản trị, rồi về phía cụ Vũ. Không cúi về phía bác Cả.
Lúc nhà chị đi ngang qua đám đông, Dụ nghe thấy tiếng người xì xào sau lưng.
"Con bé nhà ông Tam ghê thật. Chín tuổi mà nói như bà già."
"Bà cụ non đấy. Từ nay phải gọi là chị Cả."
"Chị Cả Duyên." Có ai đó cười. "Ừ, chị Cả."
Bác Cả vẫn đứng nguyên giữa sân, dưới ngọn đèn bão, cái bóng đổ dài về phía kho thóc. Bác gái Cả kéo tay áo chồng, nhưng bác không nhúc nhích. Đến khi nhà Dụ đi xuống hết con dốc, chàng ngoái lại, vẫn thấy cái bóng đó đứng đấy, quay lưng về phía cánh đồng.
Đường về nhà tối như mực. Mẹ Hương đi trước, gánh hai thúng thóc chia được, đòn gánh kĩu kịt trên vai. Anh Mạnh cầm bó đuốc nứa soi đường, bước thấp bước cao, không chịu đưa cho ai cầm. Anh Thành nắm vạt áo mẹ, ngáp dài.
Dụ nằm trên lưng chị. Cái lưng gầy nhô xương, mồ hôi thấm qua lớp áo dù trời lạnh cắt da. Chị đã quỳ suốt một canh giờ trên nền sân, bây giờ lại cõng em lội dốc, mà không than một tiếng.
Chàng nghe hơi thở của chị, nặng nhọc, đều đặn. Và chàng nghĩ: con bé này đã tính trước mọi chuyện tối nay. Tính lúc nào quỳ, tính ai sẽ khóc, tính hỏi bà Hồ câu gì. Có những lúc nó tính như một người đã sống rất lâu.
Chàng không hiểu nó. Chàng chỉ biết, trong cả sân kho đêm nay, người chàng muốn tiếp tục quan sát nhất là nó.
Sương muối đã bắt đầu đọng trắng trên mấy ngọn cỏ ven đường. Ánh đuốc của anh Mạnh quét qua, làm chúng lấp lánh một thoáng rồi tắt, như ai vừa rắc một nắm muối lên con đường về nhà.