Bàn thờ của ông Ba Tam là một tấm ván kê trên hai cái chõng tre, sát vách phía trong.
Trên ván có một bát gạo cắm ba nén hương, một đĩa muối, một cái đèn dầu bằng lọ mực cũ và một tờ giấy học trò viết tên ông bằng mực tím, nét chữ nghiêng nghiêng của ai đó trong xóm biết chữ. Không có ảnh. Ông Ba Tam cả đời chưa từng đứng trước ống kính máy ảnh lần nào.
Dụ nằm trong ổ rơm, nghiêng đầu nhìn cái bàn thờ ấy. Chàng nghĩ đến nhà Thái miếu, những bài vị sơn son, những mâm cỗ tam sinh và tiếng chiêng đồng ngân dài trong khói trầm. Chàng đã quỳ ở đó không biết bao nhiêu lần, quỳ cho đến khi đầu gối tê dại, cho các bậc tiên đế mà chàng chưa từng gặp mặt.
Người đàn ông nằm sau tờ giấy mực tím này thì chàng cũng chưa từng gặp. Chỉ có đôi tay thô ráp nhấc bổng lên cao, nằm lại trong ký ức của một đứa trẻ đã đi rồi.
Khách đến từng tốp nhỏ.
Họ không mang lễ. Người thì cầm một nắm hương, người dắt theo đứa con, người bưng nửa rá sắn khô đặt lặng lẽ xuống góc nhà rồi đi ra như thể sợ ai trông thấy. Đàn ông vái ba vái, đứng hút một điếu thuốc lào ở hiên rồi về. Đàn bà thì ở lại, ngồi quây quanh mẹ trên chiếc chiếu trải giữa nhà, nắm tay mẹ, khóc theo mẹ, rồi lau nước mắt và bắt đầu nói chuyện.
Chị Cả đứng ở cửa đón từng người. Con bé chín tuổi ấy nói "cháu mời bác vào", "cháu cảm ơn thím", đưa ghế, rót nước chè xanh, đặt khay lên chiếu cho ngay ngắn. Dụ nhìn nó làm và thấy lạ. Ở Đông cung, các nữ quan phải học ba năm mới đón khách được trơn tru như vậy. Con bé này không học ở đâu cả.
Chàng nhớ ra trong ký ức của đứa trẻ, chị Duyên vốn là đứa hay cáu, hay giành phần, hay cãi nhau với thằng Mạnh đến mức bị mẹ phạt đứng ở góc sân. Chàng ghi điều ấy vào một góc đầu. Người ta có thể thay đổi sau một đám tang. Nhưng người ta không thay đổi nhanh đến thế.
Nhà bác Cả sang từ lúc đèn mới lên. Bác thắp hương, đứng nói mấy câu với mẹ, rồi bảo còn phải về lo việc nhà, đi ngay. Chàng chỉ kịp thấy cái lưng to, bè, khuất sau cánh cửa liếp.
Người đến muộn nhất là một bà lão tóc bạc, lưng còng, mặc áo nâu bạc phếch.
Bà không cầm hương. Bà cầm một tờ giấy, gấp làm tư, nắm chặt trong tay như sợ gió thổi mất. Khi bà bước vào, tiếng nói chuyện trên chiếu bỗng nhỏ hẳn đi. Mấy người đàn bà nhích ra, nhường cho bà một chỗ sát cạnh mẹ.
"Bác Tôn gái," có người thì thầm.
Bà không nói gì. Bà vái bàn thờ ông Ba Tam ba vái, chậm rãi, run run. Rồi bà ngồi xuống cạnh mẹ, đặt tờ giấy lên đùi, vuốt cho phẳng.
Mẹ nhìn tờ giấy, rồi nhìn bà. Mẹ nắm lấy tay bà, và hai người đàn bà, một già một trẻ, ngồi im như thế rất lâu.
Từ chỗ nằm, Dụ thấy trên mặt tờ giấy có in hàng chữ đậm, một con dấu đỏ ở góc, và một dòng chữ viết tay. Chàng không đọc được thứ chữ ấy. Những nét chữ cong queo, có dấu chấm dấu móc trên đầu, chẳng giống chữ Hán chàng học từ năm lên năm, cũng chẳng giống chữ Nôm của dân gian. Lần đầu tiên từ khi tỉnh lại, chàng thấy mình mù chữ.
Nhưng chàng không cần đọc. Chàng đã cầm những tờ giấy như thế trên tay rồi. Ba mùa đông nằm sương ở biên ải, mỗi lần quân về thiếu người, chàng lại phải ngồi nghe viên thư ký đọc tên từng người không về, và chàng lại phải ký vào những tờ giấy gửi về làng của họ.
"Thằng Lương nhà bác," một bà nói nhỏ với bà bên cạnh. "Đi B được hai năm. Hôm kia xã mới đưa giấy về."
"Khổ thân. Có mỗi một thằng con trai."
"Thì nhà nào chẳng thế. Nhà Lý cũng có thằng đang ở trong ấy, mấy tháng nay không có thư."
Dụ nằm im, nghe. Chàng ghép dần những mẩu vụn: "trong ấy", "đi B", "miền Nam", "chiến trường", "Mỹ". Ở đâu đó rất xa phía nam, đất nước này đang có chiến tranh. Trai làng đi từng lớp. Người ở lại thì đi làm, nộp thóc, và chờ những lá thư, hay những tờ giấy có con dấu đỏ.
Chàng thấy chiếc chiếu giữa nhà bỗng như dài ra. Lúc nãy nó là chỗ người ta ngồi khóc cho một người đàn ông chết giữa ruộng. Bây giờ nó thành chỗ ngồi của cả xóm, của những người mẹ, người vợ đang chờ, hoặc đã thôi chờ. Không ai khóc to. Họ chỉ ngồi gần nhau hơn.
Ở Hoàng thành, chàng đã thấy nhiều đám tang lớn. Chưa đám nào lặng như thế này.
Một lúc sau, bác Tôn gái chống tay đứng dậy, lần sang chỗ ổ rơm. Bà cúi xuống nhìn chàng. Mắt bà đục, viền đỏ, khóe mắt có những nếp nhăn sâu như vết dao khắc vào gỗ.
Bà đặt bàn tay lên trán chàng. Bàn tay khô và lạnh, chai cứng ở gốc ngón, có mùi lá trầu.
"Hết sốt rồi đây," bà nói, giọng khàn như lâu ngày không nói. "Còn được đứa này là phúc cho nhà chị đấy, Hương ạ. Giữ lấy nó."
Mẹ gật đầu, không nói được.
Dụ không né. Chàng để bàn tay người đàn bà xa lạ ấy nằm trên trán mình. Chàng nghĩ đến mẹ ruột của chàng ở kiếp trước, người chỉ xoa đầu chàng mỗi năm một lần, trước mặt các phi tần. Bà Tôn gái này vừa mất con, vậy mà bà vẫn lần sang để sờ trán con của người khác.
Chàng không hiểu vì sao người ta lại làm thế. Chàng chỉ biết bàn tay ấy đặt lên trán mình lâu hơn cần thiết, và lúc nhấc ra thì run.
Rồi người ta nói đến ông Ba Tam.
Bắt đầu từ bác Lý gái, một người đàn bà béo, tiếng to, tay vẫn còn dính vôi trầu. "Hôm ấy tôi gặt ở thửa ruộng bên cạnh," bác nói, hạ giọng xuống mà vẫn đủ cả nhà nghe. "Đang gặt thì thấy chú ấy đứng thẳng lên, tay ôm bụng. Tôi tưởng chú ấy đi tiểu. Ai ngờ chú ấy khuỵu xuống luôn giữa ruộng."
"Tôi chạy sang," một người khác nối lời. "Mặt chú ấy tái nhợt, môi tím ngắt như người chết đuối. Rồi nôn. Nôn thốc nôn tháo, nôn ra cả nước xanh nước vàng."
"Tay chân thì lạnh toát, mà mồ hôi thì vã ra như tắm."
"Khiêng về đến đầu xóm thì chú ấy còn thều thào được mấy câu. Về đến nhà thì thôi."
"Làm quá sức đấy," bác Lý gái kết luận, như mọi người vẫn kết luận. "Gặt ngày chưa đủ còn gặt đêm. Sương xuống lạnh thế, ruột gan nào chịu nổi. Cảm lạnh, trúng gió."
Mấy người khác gật đầu. Mẹ lại khóc.
Dụ nằm im, mắt nhắm hờ.
Môi tím. Nôn thốc nôn tháo. Tay chân lạnh, mồ hôi vã ra. Khuỵu xuống từ tư thế đang đứng, rồi chết trong chưa đầy một canh giờ.
Chàng đã thấy người chết vì kiệt sức trên đường hành quân, đã thấy người trúng gió ở biên ải. Những gì các bà vừa kể không khớp hẳn với kiểu nào. Nó gợi cho chàng một thứ khác, một thứ thuộc về gian bếp Đông cung, mà lúc này chàng chưa muốn gọi tên.
Dụ không nói gì. Chàng chỉ là một thằng bé ba tuổi vừa qua cơn sốt, nằm trong ổ rơm, và có nói thì cũng chẳng ai nghe. Chàng cất những lời của bác Lý gái vào trong đầu, xếp gọn, như ngày trước chàng vẫn cất những bản tấu chưa phê vào một ngăn kéo riêng.
Khách về dần. Bác Tôn gái về sau cùng, chị Cả đỡ bà ra tận đầu dốc. Tờ giấy vẫn nằm trong tay bà, gấp làm tư.
Mẹ ngồi thu dọn mấy cái chén. Thằng Thành đã ngủ. Ở góc nhà, thằng Mạnh đang chụm đầu thì thầm với một thằng bé lớn hơn nó một chút, mặt tròn, mũi thò lò, áo bông vá ở khuỷu tay. Ký ức của đứa trẻ cho Dụ biết đó là cu Tũn, con út nhà bác Hai, tám tuổi, anh họ của mình.
"Mai đi sớm," cu Tũn nói. "Lên quá khe Đá Đen. Trong ấy hạt dẻ rụng đầy, chẳng ai nhặt."
"Mẹ tao không cho," thằng Mạnh nói, nhưng mắt nó sáng lên.
"Thì đừng nói. Về sớm là được."
Chị Cả vừa vào đến cửa. Con bé đứng lại, không nói gì, chỉ nhìn. Dụ thấy cái nhìn ấy và tự nhiên nằm yên hơn. Chàng biết cái nhìn đó. Đó là cái nhìn của vua cha khi một viên quan nói điều không nên nói giữa triều.
"Mạnh," chị Cả gọi.
Thằng Mạnh giật mình quay lại.
"Đứa nào định đi quá khe Đá Đen?"
Cu Tũn cười hì hì. "Nhặt ít hạt dẻ thôi mà chị."
"Trong ấy có lợn rừng, có hố sụt, có dốc trượt. Mùa này sương xuống trưa mới tan. Lạc đường thì cả xóm đốt đuốc cũng không tìm thấy." Chị nói chậm, rõ từng chữ, không to tiếng. "Bố vừa chôn sáng nay. Đứa nào muốn mẹ khóc thêm một đám nữa thì cứ đi."
Thằng Mạnh đỏ mặt, cúi đầu. Cu Tũn hết cười.
"Muốn nhặt hạt dẻ thì để chị dẫn đi. Đi chỗ chị biết, về trước khi tắt nắng. Còn đi một mình," chị dừng lại một nhịp, "thì đừng về nhà này nữa."
Câu ấy không có gì ghê gớm, Dụ nghĩ. Chẳng có roi, chẳng có cấm quân, chẳng có chiếu chỉ. Vậy mà thằng Mạnh, đứa bảy tuổi lúc nãy còn nắm đấm như muốn đánh cả trời, gật đầu ngay, không dám cãi một câu.
Cu Tũn gãi đầu, chào mẹ rồi chuồn về. Chị Cả đóng cửa liếp, gài then, rồi quay lại nhìn quanh nhà một lượt như người kiểm đếm.
Dụ nhắm mắt lại trước khi ánh mắt ấy chạm đến mình.
Ngoài vách, gió lùa qua rặng tre nghe như tiếng ai thở dài. Trên tấm ván kê làm bàn thờ, ba nén hương đã cháy gần hết, tàn hương cong xuống, rơi lả tả vào bát gạo. Ngọn đèn lọ mực lắc lư một lúc, rồi đứng yên.