Hầm khoai nhà ông Ba Tam sâu chưa đến đầu người lớn. Đất ở đấy lúc nào cũng ẩm, mùi ngai ngái như mùi áo phơi chưa khô.
Duyên ngồi xổm giữa đống khoai, tay vẫn còn nắm một củ, và không biết mình đã ngồi như thế bao lâu.
Chị nhớ rất rõ một cái giường sắt. Tấm đệm mút đã xẹp, cái quạt cây kêu lạch cạch ở góc phòng, ngoài cửa sổ là tiếng xe máy rồ lên rồi tắt ở đầu ngõ. Chị nhớ cái điện thoại để cạnh gối, màn hình sáng lên một lần rồi thôi, vì chẳng ai gọi. Chị nhớ cơn đau thắt ở ngực, quen như một người hàng xóm khó tính, đêm ấy đến rồi không về nữa. Mùa thu năm hai nghìn không trăm hai mươi ba. Sáu mươi ba tuổi. Lúc nhắm mắt, chị đã nghĩ đến mẹ, đến ba đứa em, và đến cái bếp lửa của căn nhà tranh ở Thanh Sơn mà chị đã không về từ hơn ba chục năm nay.
Rồi chị mở mắt trong chính cái hầm khoai ấy.
Chị đưa củ khoai lên sát mặt. Bàn tay cầm nó nhỏ xíu, móng tay đen đất, mu bàn tay nứt nẻ vì gió bấc. Không có đốm đồi mồi. Không có vết sẹo bỏng dầu ở nhà máy cơ khí năm chị hai mươi tư tuổi.
Trên đầu, qua kẽ ván sàn, có tiếng mẹ khóc khan.
Duyên biết hôm nay là ngày nào. Chị không cần ai nói. Cái khăn tang thắt trên đầu chị vẫn còn mùi hương trầm ngoài nghĩa địa. Sáng nay người ta chôn bố. Chiều nay chị xuống hầm lấy khoai nấu cho các em, vì từ hôm bố mất chưa ai trong nhà ăn được một bữa cho ra bữa.
Và đêm nay, cái đêm của hơn năm mươi năm trước, thằng Út chết.
Chị nhớ cái sáng hôm sau ấy hơn mọi cái sáng nào trong đời. Mẹ ôm cái xác bé tí đã cứng, ngồi ở đầu ổ rơm từ lúc gà gáy đến trưa, không cho ai động vào. Thằng Út sốt từ hôm bố còn nằm giữa nhà. Cả nhà rối như canh hẹ, chẳng ai nhớ nó. Đến tối thì nó im. Ai cũng tưởng nó ngủ.
Duyên vứt củ khoai, bám vào thành hầm mà trèo lên. Đầu gối đập vào mép ván, chị không thấy đau.
Út nằm trên ổ rơm cạnh bếp, mặt bé như cái nắm tay. Môi khô nẻ, hai hốc mắt trũng xuống. Chị quỳ xuống, áp tai vào ngực em. Có. Rất nhỏ, rất xa, như tiếng ai gõ cửa ở nhà bên kia đồi, nhưng có.
Chị đặt tay lên trán nó. Vẫn nóng.
Mẹ ngồi ở góc nhà, ôm đầu gối, không biết con gái vừa chạy lên. Thằng Mạnh đứng cạnh cột, nắm đấm siết lại. Thằng Thành rúc vào lòng mẹ. Cả nhà như bốn cái bóng bị ai bỏ quên.
Duyên ngồi xuống đầu ổ rơm và nhìn em. Chị không dám chớp mắt. Kiếp trước chị đã để nó đi trong lúc mình đang mải khóc bố. Kiếp này chị sẽ ngồi đây cho đến khi trời sáng, nếu cần.
Chị không biết mình đã ngồi bao lâu. Rồi hai mí mắt bé xíu ấy động đậy, hé ra.
Cặp mắt nhìn lên trần nhà, rồi nhìn sang chị. Nó lạ lắm. Không phải cái nhìn lờ đờ của đứa trẻ vừa qua cơn sốt, cũng không phải cái nhìn ngơ ngác mà người trong xóm vẫn chê là "ngốc". Nó nhìn chị như người ta nhìn một người lạ đứng trước cổng nhà mình: dò xét, không vội.
Duyên nghĩ: sốt cao thì mắt nó thế. Chị đã thấy bao nhiêu đứa cháu ốm rồi.
"Mẹ ơi," chị gọi, và chính chị cũng ngạc nhiên vì giọng mình khàn đặc. "Út mở mắt rồi."
Chị xuống hầm lần nữa, lần này tỉnh táo hơn. Chị chọn sáu củ khoai lang vỏ đỏ, củ nào cũng đã chớm nhăn. Đây là số khoai cuối cùng. Chị nhớ thế, vì kiếp trước, sau mấy củ này, nhà chỉ còn lá sắn luộc mà ăn, cho đến tối hôm sau, tối chia thóc.
Trên bếp, chị khơi lại than, vùi hai củ vào tro cho thằng Mạnh với thằng Thành, rồi gọt bốn củ thái miếng, nấu một nồi canh loãng với nắm muối hạt. Bàn tay chín tuổi cầm con dao vẫn còn vụng, nhưng đầu thì nhớ từng việc. Mấy chục năm đứng bếp không đi đâu cả, chỉ chuyển sang đôi tay khác thôi.
Lúc đút canh cho em, chị thấy nó mím chặt môi. Không phải kiểu trẻ con khó ăn lắc đầu nguầy nguậy. Nó mím như người lớn mím, như đã quyết một điều gì đó.
Chị không nài. Chị thổi nguội từng thìa, chạm vào môi nó, rồi chờ. Kiếp trước chị đã đút cháo cho mẹ suốt mùa đông cuối cùng của mẹ, và chị biết có những lúc người ta không cần ai dỗ. Người ta chỉ cần có ai đó chịu chờ.
"Ăn vào thì mới sống được," chị nói. Rồi chị nói nhỏ hơn, cho riêng mình nghe: "Chị không cho em đi đâu hết."
Thằng Út hé môi.
Mẹ bật khóc thành tiếng. Lần này Duyên cũng muốn khóc, nhưng chị nuốt xuống. Bà lão sáu mươi ba tuổi ở trong chị bảo: khóc để sau. Bây giờ còn phải tính.
Thằng Út ăn hết nửa bát thì ngủ thiếp. Lần này là ngủ thật, hơi thở đều, trán đã rịn mồ hôi. Duyên kéo cái chăn chiên rách lên đến cằm em, rồi ngồi xuống cạnh bếp, cầm que cời than, và bắt đầu tính.
Chị tính như kiếp trước chị vẫn tính sổ chợ: cái gì mất rồi, cái gì còn giữ được, cái gì sắp mất.
Thằng Út, đêm nay. Cái đó chị vừa giành lại được, ít ra là cho đến sáng mai.
Thằng Thành. Hai năm nữa, nó theo bọn trẻ trong xóm lên vách đá phía tây hái lê rừng. Cây lê mọc chìa ra ngoài miệng vực, quả chín vàng lủng lẳng trông như cố tình trêu người. Thằng Thành trèo ra cành, cành gãy. Người ta khiêng nó về với cái chân trái gập sang một bên. Nhà không có tiền đưa xuống bệnh viện huyện, ông y tá ở trạm xá nắn bó qua loa. Từ đấy nó đi tập tễnh, bỏ học năm lớp ba vì không đi bộ nổi bốn cây số đường núi đến trường. Cả đời nó, chị chưa thấy nó đứng thẳng lưng trước mặt ai lần nào.
Thằng Mạnh. Thằng Mạnh nóng như lửa rơm, thương em thì thương đến liều. Năm chị mười bảy tuổi, có gã con trai trong xã chặn đường chị ở dốc chợ, sàm sỡ, xé rách áo chị. Mạnh mười lăm tuổi, cầm đòn gánh đánh gã ta vỡ đầu. Nhà gã có người làm to trên huyện. Mạnh đi tù. Ra tù, nó không về Thanh Sơn nữa, trôi dạt từ mỏ này sang công trường khác, mấy năm mới gửi về một lá thư. Lần cuối chị gặp nó là ở đám tang mẹ.
Mẹ. Mẹ mòn đi như cái chày giã gạo. Đi thủy lợi, gánh phân, cấy chiêm, gặt mùa, đêm về khâu vá. Mùa đông đầu tiên không có bố, mẹ đi đắp đập thủy lợi về thì mang theo một tiếng ho, và tiếng ho ấy không bao giờ dứt hẳn. Ăn sau cùng, ăn ít nhất, và lúc nào cũng bảo "mẹ no rồi". Năm bốn mươi hai tuổi, mẹ ho ra máu, nằm đúng một mùa đông rồi đi. Trước khi đi còn dặn chị: "Con trông các em." Các em lúc ấy, một đứa què, một đứa biệt xứ, một đứa đã nằm ngoài bãi tha ma hơn chục năm.
Duyên cời than mạnh tay quá, một cục than hồng bắn ra nền đất. Chị lấy que gạt nó vào lại.
Còn chị? Chị đi làm công nhân nhà máy cơ khí huyện, ăn mặc tiết kiệm, gửi tiền về, lấy chồng muộn. Nhà máy giải thể, hai vợ chồng ra thị xã mở cái quán tạp hóa con, chị tự tay ghi sổ, bán được mười mấy năm. Rồi chồng đi trước chị, chị dẹp quán. Về già, chị thuê một căn phòng ở thị xã, mỗi sáng ra chợ mua mớ rau, nghe đài, xem ti vi, và đếm những người đã đi trước mình. Chị không oán ai. Có oán thì cũng chẳng biết oán ai cho đúng.
Nhưng có một chuyện, đến già chị vẫn thấy cấn trong lòng như hạt sạn trong bát cơm.
Đó là cái nhà gạch ngói của bác Cả.
Nhà bác Cả Đại cũng nghèo như mọi nhà khác trong xóm, ít ra là nhìn bên ngoài. Vậy mà chỉ mấy năm sau khi bố mất, bác Cả đã dựng được nhà gạch, lợp ngói đỏ, sắm cả xe đạp Thống Nhất. Người trong xóm bảo bác giỏi xoay xở. Chỉ có mấy bà già ngồi nhai trầu trong đám giỗ là hạ giọng, nói với nhau rằng cụ Tô ngày xưa không trắng tay mà lên Thanh Sơn lập nghiệp. Cụ có "của chìm". Cụ trối lại cho con trưởng. Và con trưởng ém đi, không chia cho em nào cả.
Kiếp trước, Duyên nghe chuyện ấy khi đã ngoài ba mươi, mẹ đã mất, các em đã tan tác. Chị chỉ cười nhạt rồi bỏ đi. Đồn thì đồn vậy thôi. Mà có thật thì đã muộn rồi, còn biết nằm ở đâu mà tìm.
Bây giờ thì chưa muộn.
Chị vẫn không biết nó nằm ở đâu. Chị không biết có thật hay không. Nhưng chị biết một điều chắc chắn: một mùa đông với bốn đứa con nhỏ và một người mẹ đang suy sụp thì không sống nổi bằng mấy chục cân thóc công điểm. Nếu trong cái làng này có thứ gì đáng lẽ thuộc về các em chị mà đang nằm trong tay người khác, thì chị sẽ đi tìm.
Chị cũng nhớ ra một việc gần hơn. Tối nay, khi khách khứa về hết, bác Hai Nghĩa, kế toán hợp tác xã, sẽ sang. Bác sẽ báo tối mai sân kho chia thóc theo công điểm, và hợp tác xã định bồi thường cho cái chết của bố một khoản tiền. Kiếp trước mẹ nhận tiền mà không dám nói nửa lời, cúi đầu cảm ơn như người đi xin. Số tiền ấy chưa hết mùa đông đã cạn.
Lần này thì khác. Lần này có chị.
Duyên đặt que cời xuống. Bàn tay chín tuổi của chị không đủ lớn để nắm cái gì to tát. Nhưng nó đủ để nắm một cái bát, một cái cuốc, một bàn tay em.
Chị nhìn lần lượt từng người. Thằng Mạnh đã ngủ gục ở chân cột, miệng còn dính tro khoai nướng. Thằng Thành nằm co trong lòng mẹ, ngón tay cái ngậm trong miệng. Mẹ ngồi tựa vách, mắt nhắm nhưng không ngủ, khăn tang lệch sang một bên. Và thằng Út, cái thằng bé lẽ ra đêm nay đã đi, đang thở đều trong ổ rơm.
Chị nói, không thành tiếng: "Kiếp này không ai đi đâu hết. Một đứa cũng không."
Chị không biết mình đang hứa với ai. Với bố, có lẽ. Với mẹ. Hay với bà lão sáu mươi ba tuổi nằm một mình trên cái giường sắt ở thị xã, trong căn phòng có cái quạt kêu lạch cạch.
Ngoài ngõ có tiếng chó sủa. Rồi tiếng người lao xao, tiếng guốc gỗ trên đá. Qua khe vách, Duyên thấy mấy đốm đèn dầu chập chờn đi lên con dốc dẫn về nhà mình, đốm nào cũng nhỏ như con đom đóm cuối mùa.
Hàng xóm sang thắp hương cho bố.
Chị đứng dậy, sửa lại khăn tang trên đầu, phủi tro ở vạt áo. Rồi chị đi ra cửa đón khách, như một bà chủ nhà.