Sáng hôm sau, trời vừa rạng, ba chị em đã về nhà cũ thu dọn đồ đạc.
Gọi là thu dọn, nhưng thật ra chẳng có gì mà dọn. Bà nội Đào đứng chắn ở cửa buồng, bác gái Lan khoanh tay đứng cạnh, bốn con mắt theo dõi từng bước chân như sợ ba đứa nhỏ cuỗm mất cái chổi cùn. Đồ đạc của bố mẹ năm xưa, cái thì đã bị bán, cái thì đã bị nhà bác cả lấy dùng từ lâu, giờ hỏi đến chỉ nhận được một câu "làm gì có".
Cuối cùng, cu Tũn và cái Út chỉ ôm ra được hai tấm chăn bông rách tướp, ba bộ áo vá, một cái nón mê thủng chóp và đôi đũa cả mẹ vẫn dùng để xới cơm.
Nàng cũng không tranh cãi. Sở dĩ nàng không đòi là vì nàng biết, mấy thứ đồ cũ nát ấy chẳng đáng để đổi lấy thêm một trận chửi. Cái quý nhất của mẹ, miếng ngọc, vẫn đang nằm trên cổ nàng. Còn những thứ khác, sẽ có ngày nàng đòi đủ.
Ra đến cổng, bà nội Đào còn đứng trên hiên rủa với theo:
"Cút cho khuất mắt! Để xem ba đứa ranh con chúng mày sống được mấy ngày! Đến lúc chết đói đừng có bò về đây mà van!"
Cái Út rụt cổ lại theo thói quen. Nàng nắm tay em, không quay đầu lại, chỉ nói khẽ:
"Đi thôi. Ngẩng mặt lên."
Cuối xóm Hạ Vân có một túp lều tranh bỏ hoang, vốn là của một ông lão đánh dậm không con cái, ông mất đã mấy năm, nhà cửa chẳng ai ngó ngàng. Ông Xã trưởng bàn với các cụ, cho ba chị em tạm ở đó.
Ba chị em ôm đồ đến nơi thì sững người.
Mái rạ thủng lỗ chỗ, nhìn rõ cả trời xanh. Vách đất nứt toác, gió lùa vào lạnh buốt. Trong nhà ẩm mốc, cỏ dại mọc lên tận bậu cửa, một con chuột to tướng "chít" một tiếng rồi chạy vụt qua chân cái Út, làm con bé hét toáng lên.
Cu Tũn gãi đầu:
"Chị ơi, thế này thì ở thế nào?"
Nàng xắn tay áo:
"Ở được. Ngày xưa chị còn ngủ trong hang đá cơ mà."
Cu Tũn ngẩn ra: "Chị ngủ hang đá bao giờ?"
Nàng ho khan một tiếng, vội lảng sang chuyện khác. Trong lòng nàng thầm nghĩ: Suýt nữa thì lỡ miệng. Đời trước nằm phục kích ba ngày ba đêm trong hang đá ẩm ướt, so ra cái lều này còn là cung điện.
Chưa kịp bắt tay vào dọn, ngoài ngõ đã ồn ào tiếng người.
Chú Lương Phú vác thang tre, thím Chi gánh một gánh rơm, theo sau là cái Ngọc – con gái lớn nhà chú, mười bốn tuổi – và thằng Trâu xách mấy bó lạt. Rồi bà Trần cùng anh Trần Đại Vượng khiêng một cái chõng tre, hai cụ Đinh ở xóm trên mang sang mấy cái rổ rá, một cái thúng. Bà Lý sai Lý Đại Giang, Lý Đại Hà gánh sang hai cái chum sành, một nồi đất, một cái niêu. Ông cụ đánh dậm xóm dưới mang cho bó củi khô, bà cụ bán nước chè ở đầu làng dúi cho cái Út một gói chè tươi.
Nàng đứng nhìn, cổ họng nghẹn lại.
"Các bác, các chú... cháu không biết lấy gì mà trả..."
Chú Lương Phú phẩy tay, cười khà khà:
"Trả cái gì! Ngày xưa bố cháu lợp nhà cho cả xóm này có lấy của ai đồng nào đâu. Nay chú lợp cho con chú ấy, coi như trả nợ cũ."
Thế là cả xóm bắt tay vào làm. Đàn ông trèo lên mái, dỡ lớp rạ mục, lợp lại rạ mới, buộc lạt chặt từng hàng. Đàn bà nhào đất với rơm trát lại vách, quét mạng nhện, nhổ cỏ, đắp lại cái bếp kiềng ba hòn. Trẻ con thì chạy ra ao vục nước, đứa nào cũng lấm lem bùn đất mà cười như được hội.
Nàng đầu còn băng, bị bà Lý ấn ngồi xuống chõng, không cho làm việc nặng, chỉ được ngồi tước lạt. Cái Út thì theo cái Ngọc ra ao rửa nồi, hai đứa ríu rít như hai con chim sẻ.
Cu Tũn nhất định không chịu ngồi, xin theo chú Lương Phú trèo lên mái chuyển rạ. Thằng bé gầy nhưng nhanh nhẹn, leo thoăn thoắt như con sóc, được chú Phú khen "giống bố mày ngày xưa", sướng đến mức cười toe toét cả buổi.
Nàng ngồi dưới hiên, tay tước lạt, mắt quan sát mọi người. Ai mang gì sang, ai làm việc gì, nàng đều ghi nhớ trong lòng. Đời trước, nàng quen ghi sổ từng viên đạn, từng gói lương khô. Kiếp này, nàng ghi sổ từng ơn nghĩa. Người ta cho một bát gạo lúc đói, sau này nàng sẽ trả bằng cả thúng.
Cái Ngọc rửa nồi xong, chạy lại ngồi cạnh nàng, ngập ngừng hỏi nhỏ:
"Chị Hĩm ơi, hôm qua ở đình chị không sợ à? Em mà đứng trước các cụ thì chắc run đến ngất mất."
Nàng cười:
"Sợ chứ. Nhưng sợ mà im thì em chị chịu oan cả đời. Thế thì thà sợ mà nói."
Cái Ngọc nghe xong thì ngẩn người, nhìn nàng như nhìn một người lạ. Hồi trước, chị Hĩm ít nói, lúc nào cũng cúi đầu gánh nước, có bao giờ nói được những câu như thế đâu.
Đến quá trưa, túp lều đã khác hẳn. Mái rạ vàng óng, vách đất phẳng phiu, trong nhà kê một chiếc chõng tre, góc bếp có nồi, có niêu, có chum đựng nước. Tuy vẫn đơn sơ, nhưng lần đầu tiên ba chị em có một chỗ gọi là của mình.
Chiều muộn, ông lang Tô xách hòm thuốc sang thay băng cho nàng.
Ông gỡ lớp vải cũ ra, xem vết thương, thoáng nhíu mày:
"Lạ thật. Mới một đêm mà miệng vết đã khép lại, không sưng không mưng. Con bé này sức khỏe cũng khá đấy."
Ông đắp một lớp thuốc mới, băng lại cẩn thận, rồi rút từ trong áo ra một gói nhỏ, đưa cho nàng:
"Thuốc uống đây, ngày sắc một thang. Hết ba thang thì sang ông lấy tiếp."
Nàng rút một nén bạc trong hai nén được chia, hai tay đưa cho ông:
"Ông lang ơi, tiền thuốc cháu xin gửi ông. Hôm qua ông bảo hai mươi lạng, cháu chưa đủ, xin ông cho nợ dần..."
Ông lang Tô phá lên cười, đẩy tay nàng lại:
"Cháu cất đi. Ông lấy một lạng của bà Đào hôm qua là đủ rồi. Thuốc thang về sau, cháu cứ nợ, khi nào làm ăn khá thì trả ông cũng được."
Nàng ngẩn ra:
"Thế... hai mươi lạng?"
Ông lang vuốt râu, nheo mắt nhìn nàng, giọng hạ xuống, đầy vẻ tinh quái:
"Ông nói thách đấy. Vết thương của cháu nặng thật, nhưng làm gì đến hai mươi lạng. Ông cố hét giá cho cao, để mụ ấy sợ tốn tiền, mau mau buông các cháu ra cho rảnh. Mụ ấy tiếc của hơn tiếc người, ông biết thừa."
Nàng nhìn ông lão tóc bạc ngồi trước mặt, bỗng thấy cay cay nơi khóe mắt.
Hóa ra trong cái làng này, vẫn có người lặng lẽ đứng về phía ba chị em từ đầu.
Nàng cúi rạp người, vái ông một vái thật sâu:
"Ông lang, ơn này cháu xin ghi nhớ."
Ông lang Tô xua tay, đứng dậy đeo hòm thuốc lên vai, đi được mấy bước còn ngoái lại dặn:
"Đừng ghi nhớ gì cả, cứ sống cho khỏe là được."
Tối hôm ấy, bà Lý sang gọi ba chị em sang nhà ăn cơm, bảo lều mới dựng, bếp chưa khô, chưa nấu được. Mâm cơm nhà ông Xã trưởng có bánh ngô nướng thơm phức, một bát trứng hấp vàng ươm rắc hành, đĩa rau muống luộc và bát nước chấm.
Cu Tũn và cái Út ngồi nhìn bát trứng hấp mà không dám động đũa. Đã bao lâu rồi chúng không được ăn trứng? Từ ngày mẹ mất, trứng trong nhà là của bà nội, của thằng Xà, chẳng bao giờ đến lượt chúng.
Bà Lý gắp cho mỗi đứa một miếng to, giục:
"Ăn đi, ăn đi các cháu. Nhà bà không có ai bắt các cháu nhịn đâu."
Cái Út cắn một miếng, nước mắt bỗng rơi lã chã xuống bát. Con bé vừa nhai vừa khóc, khóc mà vẫn không chịu nhả miếng trứng ra, khiến bà Lý cũng phải quay đi lau mắt.
Ăn xong, ba chị em cảm ơn ông bà Xã trưởng rồi về lều. Đêm đã xuống, trăng non treo trên ngọn tre. Trong lều, nàng thắp ngọn đèn dầu lạc bà Lý cho, ánh sáng vàng vọt soi lên ba khuôn mặt gầy.
Nàng ngồi xếp bằng trên chõng, gọi hai em lại gần:
"Tũn, Út. Chị có chuyện này muốn nói."
Hai đứa ngồi sát vào chị.
"Mẹ còn sống có lần kể với chị, mẹ đặt tên cho ba chị em mình từ lúc mới sinh, nhưng bà nội bảo con nhà nghèo tên đẹp quá thì khó nuôi, nên cứ gọi Hĩm, gọi Tũn, gọi Út. Giờ mình ra ở riêng rồi, chị muốn từ nay ba chị em gọi bằng tên thật mẹ đặt."
Cu Tũn mở to mắt: "Tên thật ạ?"
Nàng gật đầu, chậm rãi nói từng tên, như đọc một lời thề:
"Chị là Đào Thanh Nhàn. Em là Đào Minh Đức. Còn Út là Đào Thanh Hà."
"Minh Đức..." Cu Tũn lẩm nhẩm, rồi nhoẻn miệng cười. "Nghe như tên ông đồ."
Cái Út, giờ là Thanh Hà, vỗ tay reo lên:
"Thanh Hà! Em là Thanh Hà! Tên em đẹp quá!"
Nàng nhìn hai em cười, lòng nhẹ hẳn đi.
Đêm ấy hai đứa nhỏ nằm ôm nhau ngủ say trên chõng, tiếng thở đều đều. Thanh Nhàn nằm bên ngoài, mắt mở trừng trừng nhìn lên mái rạ mới.
Trong lòng nàng khẽ nói với cô bé đã chết dưới hòn đá kê cột:
Hĩm à, chị không biết em đã đi đâu. Nhưng thân này chị xin mượn, đời này chị sẽ sống thay em. Các em của em, chị nuôi. Nỗi oan của bố mẹ em, chị đòi. Những kẻ đã hại em, chị sẽ không tha một ai.
Ngoài kia, gió đêm lùa qua bờ tre xào xạc, như có ai khẽ đáp lời.