Quá trưa, nắng gắt. Nhà họ Đào ăn cơm xong thì kéo nhau đi nằm, bà nội Đào trước khi vào buồng còn lườm xuống gian bếp một cái, buông một câu "tối nay xem chúng mày ăn nói thế nào với làng".
Bà Lý về rồi. Gian bếp chỉ còn ba chị em.
Nàng nằm nghỉ trên ổ rơm chừng nửa canh giờ cho thuốc ngấm, đầu đã bớt choáng. Cu Tũn ngồi canh ở cửa, cái Út thì ngồi bên cạnh lấy nón quạt cho chị, quạt đến mỏi cả tay vẫn không chịu thôi.
Nàng mở mắt, khẽ nói:
"Tũn, em ở đây trông nhà. Ai hỏi thì bảo chị ra sau vườn đi giải. Út, đi với chị."
Cu Tũn cuống lên:
"Chị đang đau thế, đi đâu?"
"Đi tìm năm quả trứng."
Thằng bé ngẩn ra, chưa hiểu gì thì chị nó đã vịn tường đứng dậy, dắt cái Út ra lối sau bếp.
Sau nhà họ Đào là một mảnh vườn nhỏ trồng rau muống, rau dền, xa hơn là bờ tre già chạy dọc theo con mương cạn. Người lớn ít khi ra đó, chỉ có trẻ con hay chui vào bắt dế, bẻ măng non.
Nàng đi chậm, mắt nhìn xuống đất.
Đời trước, bài học đầu tiên khi khám hiện trường là đừng vội nhìn xa, hãy nhìn dưới chân trước. Kẻ trộm có thể chối, nhưng đất thì không biết nói dối.
Quả nhiên, trên tấm phên tre chắn lối ra vườn có một vệt đen nhòe nhòe, cao chừng ngang vai một đứa trẻ mười ba tuổi, như thể ai đó tay lấm bồ hóng đã chống vào đấy để lách qua. Lại thêm vài bước nữa, trên một tàu lá chuối rủ xuống cũng có dấu ngón tay đen y như vậy.
Cái Út trố mắt nhìn chị, thì thào:
"Chị ơi, cái gì thế?"
"Dấu tay của kẻ ăn trứng."
Nàng lần theo, men qua luống rau, đến tận bờ tre. Ở một góc khuất sau bụi tre gai, nơi đứng trong nhà không thể nhìn thấy, có một đống lá tre khô bị cào vun lên cao bất thường.
Nàng ngồi xổm xuống, lấy que gạt đống lá ra.
Bên dưới là một hố đất nhỏ, mấy hòn gạch vỡ kê làm bếp, giữa là một nhúm tro trắng lẫn mấy mẩu than đen. Nàng chìa mu bàn tay lại gần, cảm thấy hơi ấm phả lên. Than vẫn còn ấm, nghĩa là mới nhóm chưa đến hai canh giờ.
Nàng bới thêm. Dưới lớp tro là mấy mảnh vỏ trứng, có mảnh cháy sém, có mảnh còn dính lòng trắng đã chín. Nàng nhặt từng mảnh ra đếm, ghép lại, vừa đủ năm quả, trong đó hai quả vỏ đã khô cong như để từ hôm qua, ba quả còn mới.
Cái Út đưa tay bụm miệng, mắt đỏ lên.
Năm quả trứng mà nó bị đánh đến toác da, bị bắt quỳ trên sỏi, bị cả xóm nhìn bằng con mắt khinh bỉ, giờ nằm ở đây, trong đống tro này.
"Thì ra... thì ra có người nướng..."
Nàng vỗ nhẹ lên vai em:
"Đừng khóc. Khóc bây giờ thì phí nước mắt. Để dành tối nay em đứng thẳng lưng."
Nàng xé một mảnh lá chuối, xếp từng mảnh vỏ trứng vào, gói lại cẩn thận, buộc bằng sợi lạt. Mẩu than lớn nhất nàng cũng gói vào một mảnh khác.
Đang định quay về, bỗng có tiếng sột soạt từ phía con mương.
"Ai đấy?"
Nàng quát khẽ, tay theo phản xạ đã nắm lấy cây que như nắm dao găm, người hơi khom xuống. Cái Út nép sát sau lưng chị.
Từ sau bụi tre, một thằng bé đen nhẻm, đầu cạo trọc chỉ chừa một chỏm tóc trước trán, tay cầm cái liềm cắt cỏ, rụt rè bước ra. Là thằng Trâu, con trai út nhà chú Lương Phú và thím Chi, cùng tuổi với cái Út.
Thằng Trâu nhìn cái gói lá chuối trên tay nàng, rồi nhìn đống tro, mặt tái đi. Nó lắp bắp:
"Chị Hĩm... em... em không ăn trộm đâu. Em đi cắt cỏ cho trâu thôi."
Nàng nhìn thằng bé. Đôi mắt nó cứ chớp lia lịa, bàn tay cầm liềm siết chặt, rõ ràng là đang có chuyện muốn nói mà không dám.
Nàng buông que xuống, giọng dịu lại:
"Chị biết em không ăn trộm. Nhưng em có thấy ai ngồi ở đây không?"
Thằng Trâu cúi gằm mặt, chân di di xuống đất, mãi một lúc mới nói lí nhí:
"Sáng nay lúc gà gáy lần hai, em dắt trâu ra bờ mương, thấy thằng Xà ngồi đây thổi lửa, nướng trứng. Nó vùi trứng vào tro, ăn xong còn chùi tay vào áo. Chiều qua em cũng thấy nó lấm lét ở đây..."
"Sao em không nói?"
Thằng Trâu càng cúi thấp hơn, giọng như muốn khóc:
"Nó bảo nếu em hé răng thì anh Cột anh Kèo sẽ đánh gãy chân em. Năm ngoái anh Kèo đã đẩy em xuống ao một lần... Em sợ lắm. Lúc sáng nghe chị bị ngã, em... em định nói mà không dám."
Nói đến đây, thằng bé òa lên khóc, vừa khóc vừa lấy tay quệt nước mắt, quệt cả cỏ lẫn bùn lên mặt.
Nàng ngồi xuống, ngang tầm mắt thằng bé.
Cái Hĩm trong ký ức nhớ thằng Trâu là đứa hiền nhất xóm, hay chia khoai cho cái Út, có lần còn lén mang cho ba chị em nắm cơm nắm lúc bị bà nội phạt nhịn đói. Một đứa trẻ như thế, sợ hãi là chuyện dễ hiểu.
Nàng nói chậm, từng chữ một:
"Trâu, em nghe chị nói. Tối nay ở đình, có ông Xã trưởng, có các cụ, có cả bố mẹ em. Em chỉ cần kể lại đúng những gì em thấy, không thêm không bớt. Có chị đứng trước, đứa nào dám động vào em, chị bẻ tay đứa ấy."
Thằng Trâu ngẩng lên, nhìn nàng. Chị Hĩm trước giờ ít nói, lúc nào cũng cúi đầu, bị đánh cũng không kêu. Vậy mà giờ đây, trên khuôn mặt còn vết máu khô ấy, đôi mắt sáng đến lạ, lời nói chắc như đinh đóng cột.
Không hiểu sao, thằng bé thấy mình tin.
"Vâng... em nói."
"Thế thì về đi, nói với bố mẹ em trước. Bảo thím Chi tối nay đưa em ra đình."
Thằng Trâu gật đầu lia lịa, vác liềm chạy biến. Đi được mấy bước còn ngoái lại, như sợ chị đổi ý.
Nàng nhìn theo, trong lòng âm thầm tính toán.
Vỏ trứng, tro ấm, dấu bồ hóng trên phên và trên lá chuối, lời làm chứng của thằng Trâu, cộng với ống tay áo đen sì của thằng Xà. Mỗi thứ đứng riêng thì yếu, ghép lại thì thành sợi thừng đủ trói một đứa trẻ hư.
Còn bà nội Đào...
Thằng Xà là cháu cưng nhất của bà. Sáng nay nó lén lút như thế, bà có thật không biết gì không?
Nàng nhớ lại lúc bà nội lôi cái Út ra sân. Rổ trứng mất từ hôm qua, mà sáng nay bà mới làm ầm lên. Lại nhớ đến ánh mắt bà khi thằng Xà giật mình ở sau cột. Bà không nhìn nó lấy một lần, như thể cố tình tránh.
Trong lòng nàng thầm nghĩ: Có khi không chỉ là thằng Xà.
Hai chị em men theo luống rau trở về. Nàng giấu gói lá chuối vào trong vạt áo, dặn cái Út không được nói với ai, kể cả cu Tũn, đến tối hẵng hay.
Gần tới cửa bếp, cái Út bỗng đứng lại, níu áo chị. Con bé ngước lên, đôi mắt còn đọng nước:
"Chị ơi... thế tối nay người ta có tin không? Hay người ta lại bảo em bịa ra, bảo thằng Trâu bênh em?"
Nàng hiểu nỗi sợ của em. Bị đánh thì đau ở da thịt, còn bị nghi oan thì đau ở trong lòng. Cả xóm sáng nay nhìn nó như nhìn đứa ăn cắp, nỗi nhục ấy với một đứa trẻ mười hai tuổi còn nặng hơn cả trăm roi.
Nàng cúi xuống, vén mấy sợi tóc rối dính trên má em, giọng nhẹ mà chắc:
"Tối nay em cứ ngẩng mặt lên."
Cái Út ngơ ngác:
"Ngẩng mặt lên ạ?"
"Ừ. Người không làm gì sai thì không phải cúi đầu. Ai nhìn em, em cứ nhìn lại. Còn lại, có chị."
Cái Út mím môi, gật đầu thật mạnh.
Gió thổi qua bờ tre, lá tre khô rơi lả tả. Phía nhà trên, tiếng ngáy của bác cả Tài vang lên đều đều. Không ai biết rằng ở gian bếp tối om phía dưới, một gói lá chuối nhỏ đang chờ đến giờ Tuất.
Chiều hôm ấy, cu Tũn được chị sai đi gánh nước, cái Út quét sân, nàng nằm nghỉ, mọi việc vẫn như thường.
Chỉ có thằng Xà là chẳng yên. Mấy lần nó lảng vảng ra sau vườn, thấy đống lá tre bị bới tung thì mặt cắt không còn giọt máu, chạy vội vào giếng kỳ cọ ống tay áo. Nhưng bồ hóng dính vào vải thô, càng kỳ càng loang, chẳng mấy chốc đã thành một mảng xám lem nhem.
Nàng nằm trong bếp, nghe tiếng nước xối "ào ào" ngoài giếng, khẽ nhếch môi.
Chập tối, cu Tũn gánh nước về, đặt đôi thùng xuống rồi ghé tai chị thì thầm:
"Chị ơi, thằng Xà nó cứ kỳ áo mãi ở giếng, kỳ đến rách cả da tay. Bác gái thấy thế còn mắng nó điên."
Nàng gật đầu, kéo em ngồi xuống cạnh, lúc ấy mới kể cho em nghe chuyện ở bờ tre. Cu Tũn nghe xong thì mắt trợn tròn, tay nắm lại thành nắm đấm, đứng phắt dậy định đi tìm thằng Xà.
Nàng giữ vai em lại:
"Ngồi xuống. Giờ mà em sang đánh nó, mai cả làng sẽ nói con nhà chú Hai đánh em họ để ép cung. Thế là mất hết."
Cu Tũn hậm hực ngồi xuống, nhưng vẫn nghiến răng ken két.
Nàng nói chậm:
"Tối nay em chỉ làm một việc thôi: đứng cạnh chị, đừng nói gì hết. Ai chửi cũng mặc, ai xô cũng không được đánh lại. Chị cần các cụ thấy ba chị em mình là người có lý, không phải người có nắm đấm."
Thằng bé nhìn chị hồi lâu, cuối cùng gật đầu.
Ba chị em chia nhau hai củ khoai thím Chi cho từ trưa, uống mấy ngụm nước giếng. Nhà trên đang ăn cơm, mùi cá kho bay xuống tận gian bếp, nhưng chẳng ai mời. Ba đứa ngồi im lặng trong bóng tối, chờ tiếng mõ.