Giờ Tuất, đình làng Hạ Vân sáng rực đuốc.
Ngôi đình cổ mái cong, cột lim đen bóng, trước sân có cây gạo già và cái giếng tròn. Đã lâu lắm rồi làng mới họp vì chuyện nhà một hộ, lại là chuyện con cháu kiện bà nội, nên người kéo đến đông nghịt. Đàn ông đứng phía trước, đàn bà chen phía sau, trẻ con thì leo lên bậc thềm, có đứa trèo cả lên gốc gạo mà ngó.
Trên chiếu cạp điều đặt giữa đình, các cụ trong hội đồng kỳ mục ngồi thành hàng. Ngồi giữa là cụ tiên chỉ, râu dài chấm ngực, đã ngoài bảy mươi. Ông Xã trưởng ngồi bên tả, ông lang Tô được mời ngồi ở chiếu dưới.
Nhà họ Đào đứng một bên, bà nội Đào đi trước, bác cả Tài, bác gái Lan, ba thằng Cột, Kèo, Xà theo sau. Chú Ba Đào và thím Ba đang có mang đứng lùi tít phía cuối, chẳng nói câu nào.
Ba chị em đứng bên kia. Đầu nàng vẫn quấn băng trắng, máu thấm ra một vệt nâu. Cái Út đứng nép sau lưng chị, cu Tũn đứng cạnh, tay nắm chặt. Thím Chi dắt thằng Trâu đứng ngay sau ba chị em.
Ông Xã trưởng đứng dậy, gõ ba tiếng mõ "cốc, cốc, cốc". Sân đình im bặt.
"Hôm nay làng họp vì chuyện nhà bà Đào. Cháu gái nhà chú Hai suýt chết vì ngã, bà Đào bảo cháu út ăn trộm trứng. Bên nào có lời thì nói, các cụ nghe rồi xét."
Bà nội Đào không đợi mời, bước ngay ra giữa sân, khóc rống lên:
"Các cụ ơi, các cụ xét cho tôi! Tôi già rồi, nuôi ba đứa cháu mồ côi, cơm nhà tôi chúng nó ăn, áo nhà tôi chúng nó mặc. Thế mà con Út ăn trộm trứng, tôi dạy có mấy roi, con Hĩm lao vào cản rồi tự ngã. Giờ nó còn vu cho tôi đánh, còn đòi bỏ nhà mà đi. Trời ơi, cháu mất dạy thế này thì tôi sống làm gì nữa!"
Bác gái Lan cũng tiếp lời, giọng đầy vẻ oan ức:
"Bẩm các cụ, nhà con cả đời chẳng ai ăn vụng, chỉ có con Út hay lảng vảng chuồng gà. Không phải nó thì còn ai?"
Đám đông lại bắt đầu rì rầm. Có người gật gù theo, có người lắc đầu, mấy bà ban sáng đứng ở cổng giờ lại ghé tai nhau.
"Thì cũng phải, trứng mất thì phải có người lấy chứ."
"Bà ấy ác thật, nhưng cái Út thì cũng..."
Cụ tiên chỉ hắng giọng, quay sang nàng:
"Còn cháu, cháu nói thế nào?"
Nàng bước lên một bước, cúi đầu chào các cụ, rồi mới thong thả lên tiếng:
"Thưa các cụ, cháu không dám nói nhiều. Cháu chỉ xin bày ra mấy thứ, các cụ xem rồi xét."
Nói rồi, nàng lấy trong vạt áo ra gói lá chuối, quỳ xuống mép chiếu, mở ra từng lớp. Dưới ánh đuốc, mấy mảnh vỏ trứng cháy sém hiện ra, cạnh đó là mẩu than đen.
"Năm quả trứng nhà bà cháu mất, vỏ đều ở đây. Cháu tìm thấy dưới đống lá khô ở bờ tre sau nhà, có bếp gạch, có tro còn ấm. Hai quả vỏ đã khô từ hôm qua, ba quả còn mới từ sáng nay. Lúc ấy em cháu đang bị bà bắt quỳ ngoài sân, không thể vừa quỳ vừa đi nướng trứng được."
Sân đình xôn xao. Mấy cụ trên chiếu cúi người nhìn vào đống vỏ trứng, có cụ còn cầm lên soi.
Bà nội Đào biến sắc, rồi lại hét lên:
"Ai biết mày nhặt ở đâu về! Mày bày ra để vu cho người khác!"
Bác gái Lan cũng chen vào:
"Đúng đấy! Vỏ trứng thì nhà nào chẳng có, nó nhặt đâu đó mang ra đây, ai mà biết được!"
Một cụ trên chiếu gật gù, quay sang hỏi:
"Cháu bảo vỏ ở sau nhà cháu, nhưng lấy gì làm bằng?"
Nàng cung kính đáp:
"Thưa cụ, bếp gạch, tro than vẫn còn nguyên dưới đống lá ở bờ tre, các cụ cho người ra xem là thấy. Trên phên tre ra vườn và trên tàu lá chuối còn có dấu tay đen, cao vừa ngang vai một đứa trẻ. Cháu không động vào chỗ nào."
Ông Xã trưởng lập tức sai Lý Đại Giang cầm đuốc chạy đi. Chưa đầy một khắc, anh ta đã quay về, thở hổn hển, bẩm lại đúng như lời nàng nói, lại còn mang về được một hòn gạch cháy đen.
Đám đông "ồ" lên một tiếng.
Nàng không để ai kịp nói thêm, quay ra sau gọi:
"Trâu, em ra đây."
Thằng Trâu run run bước ra, thím Chi đi kèm bên cạnh, tay đặt lên vai con. Thằng bé nhìn đám đông đông nghịt thì sợ đến mức líu cả lưỡi. Nàng đứng chắn trước mặt nó, che đi ánh mắt hằm hằm của ba anh em thằng Cột, khẽ nói:
"Kể đi, có chị ở đây."
Thằng Trâu nuốt nước bọt, rồi nói một mạch, giọng lạc cả đi:
"Thưa các cụ, sáng nay lúc gà gáy lần hai, con dắt trâu ra bờ mương, thấy anh Xà ngồi sau bụi tre thổi lửa nướng trứng. Anh ấy ăn xong chùi tay vào áo, còn dọa con nói ra thì anh Cột anh Kèo đánh gãy chân. Chiều qua con cũng thấy anh ấy ở đấy."
"Thằng ranh con, mày nói láo!"
Thằng Cột gầm lên, xông lên một bước. Chú Lương Phú đứng ngay đó, nhích người chắn trước vợ con, mặt sầm xuống. Ông Xã trưởng gõ mõ "cốc" một tiếng thật mạnh:
"Đứa nào làm loạn ở sân đình thì ra ngoài cổng mà quỳ!"
Thằng Cột đành lùi lại, mặt đỏ gay.
Nàng lúc này mới quay sang nhìn thằng Xà. Thằng bé đứng nép sau lưng bà nội, mặt trắng bệch, hai tay giấu ra sau lưng.
Nàng hỏi, giọng không to không nhỏ:
"Xà, sao tay áo mày dính bồ hóng?"
Cả sân đình dồn mắt về phía nó.
Thằng Xà giật bắn, lắp bắp:
"Tao... tao... tao đi nấu cám lợn."
"Sáng nay bếp nhà mình không ai nhóm lửa, cám lợn cũng do em tao nấu từ chiều qua. Mày nấu ở đâu?"
Thằng Xà há miệng, không thốt ra được chữ nào.
Ông lang Tô ngồi ở chiếu dưới, chậm rãi lên tiếng:
"Thằng bé đưa tay ra cho các cụ xem cái."
Bác gái Lan vội kéo con ra sau, nhưng chú Lương Phú và hai người đàn ông đứng cạnh đã nhanh tay lôi thằng Xà ra giữa sân. Dưới ánh đuốc, ống tay áo phải của nó loang lổ một mảng xám đen, càng kỳ cọ càng loang rộng, đầu móng tay còn đen sì những muội.
Mọi người còn chưa kịp nói gì, thằng Xà đã méo xệch mặt, khóc òa lên:
"Con ăn! Con ăn trứng! Con đói, con nướng ăn... Con không cố ý đâu! Bà biết mà! Sáng nay bà thấy con chùi tay, bà bảo con im đi, cứ để bà đổ cho con Út, nó là con nhà thằng Hai, đánh chết cũng chẳng ai nói gì!"
Cả sân đình như có một tảng đá rơi xuống mặt ao, "ầm" một tiếng vỡ òa.
"Trời đất ơi! Bà ấy biết mà vẫn đổ cho cái Út!"
"Đánh cháu đến vỡ đầu, mà thằng ăn trộm lại là cháu cưng của bà ấy!"
"Ác quá! Thế mà còn kêu oan, còn khóc lóc trước mặt các cụ!"
Mấy bà ban chiều còn gật gù bảo "con nhà đói thì ăn vụng", giờ quay ngoắt sang chỉ trỏ bà nội Đào, có bà còn nhổ nước bọt xuống đất. Một bà cụ ở xóm dưới chống gậy, run run nói:
"Tôi sống bảy mươi năm, chưa thấy ai ác với cháu mình như thế."
Bà nội Đào đứng giữa sân, mặt lúc đỏ lúc tím, môi run bần bật. Bà quay sang thằng Xà, giơ tay định tát, gào lên:
"Mày điên à! Ai bảo mày nói thế!"
Bàn tay bà chưa kịp hạ xuống thì đã bị ông Xã trưởng quát giật lại:
"Bà Đào! Đây là sân đình, không phải sân nhà bà!"
Bà nội khựng tay giữa chừng, thằng Xà sợ quá ngồi thụp xuống đất, ôm đầu khóc ầm lên.
Nhưng câu ấy chẳng khác nào lạy ông tôi ở bụi này. Tiếng chửi càng to hơn. Bác gái Lan ôm lấy con trai, cúi gằm mặt, không dám nhìn ai. Bác cả Tài đứng như trời trồng, mặt xám ngoét.
Cụ tiên chỉ giận đến mức râu dựng ngược, đập tay xuống chiếu "bộp" một cái, quát:
"Bà Đào! Biết cháu nội ăn trộm mà đổ cho cháu nội khác, đánh người ta suýt chết, lại còn đến trước đình dối các cụ! Bà coi làng này không có ai à?"
Bà nội Đào lảo đảo, phải bám vào vai bác gái Lan mới đứng vững.
Ánh mắt mọi người lúc này đổ dồn về phía ba chị em, có thương xót, có áy náy, có cả khâm phục.
Thím Chi kéo cái Út vào lòng, nước mắt lã chã:
"Khổ thân con tôi, oan quá con ơi!"
Mấy bà khác cũng xúm lại, người xoa đầu, người vuốt lưng. Một bà ban chiều nói "ăn vụng chẳng lạ", giờ đỏ mặt dúi vào tay cái Út một nắm kẹo lạc, lí nhí:
"Bác nói hồ đồ, cháu đừng giận bác."
Cái Út đứng đó, ngơ ngác nhìn quanh. Mười hai năm nay, nó chỉ quen với những ánh mắt khinh khỉnh, những tiếng chửi, những cái phẩy tay. Đây là lần đầu tiên trong đời, cả làng nhìn nó bằng con mắt thương xót như thế.
Nó nhớ lời chị dặn.
Con bé từ từ buông vạt áo chị ra, bước lên một bước, đứng thẳng lưng ngay sau lưng chị, ngẩng mặt lên.
Nàng liếc sang, thấy em mình đang cố mím môi cho khỏi khóc mà cằm cứ run run, trong lòng bỗng mềm đi.
Nàng quay lại phía chiếu trên, cúi đầu thật thấp:
"Thưa các cụ, em cháu đã được rửa oan. Giờ cháu xin các cụ xét nốt việc thứ hai."