Nàng biết rõ một điều: ở cái làng này, lời của một đứa con gái mười sáu tuổi chẳng nặng bằng cọng rơm. Muốn thoát khỏi bà nội Đào, nàng không thể cãi tay đôi, càng không thể vác dao lên nhà trên. Nàng cần người làm chứng, cần cả làng nhìn thấy.
Đời trước, trước mỗi trận đánh, đội trưởng vẫn dặn: muốn thắng thì phải chọn chiến trường. Chiến trường của nàng hôm nay không phải gian bếp tối om này, mà là cái ngõ ngoài kia.
Nàng nắm tay cu Tũn, hạ giọng:
"Em chạy ngay sang nhà ông Xã trưởng. Gặp ông thì cứ nói thật: chị bị bà đẩy ngã đập đầu vào đá, máu chảy lênh láng, giờ sắp không qua khỏi. Gặp bà Lý thì cũng nói y như thế. Nhớ chưa?"
Cu Tũn ngập ngừng:
"Nhưng bà cấm..."
"Bà cấm thì em chạy đường sau vườn. Có chuyện gì chị chịu."
Thằng bé nhìn vệt máu trên trán chị, nghiến răng gật đầu, rồi lẻn qua lỗ hổng ở hàng rào dâm bụt, chạy "vụt" một cái đã mất hút.
Cái Út níu vạt áo chị, thút thít:
"Chị ơi, để em lấy nước rửa mặt cho chị."
"Không cần. Em cứ để nguyên đấy."
Nàng giữ tay em lại. Sở dĩ nàng làm vậy là vì nàng hiểu, một khuôn mặt bê bết máu đáng giá hơn trăm câu kể lể. Người ta có thể không tin lời một đứa cháu, nhưng không ai cãi được mắt mình.
Nàng vịn vào cột bếp, gượng đứng dậy. Trời đất chao đảo một hồi, nàng cắn môi đứng yên đợi qua cơn, rồi dắt cái Út ra ngồi ngay bậc cửa bếp, chỗ nhìn thẳng ra cổng tre. Cổng nhà họ Đào mở ra ngõ chính của xóm, giờ này đúng lúc các bà đi chợ sớm về, người gánh rau, người xách mủng tôm.
Nàng vén tay áo cái Út lên. Trên hai cánh tay gầy của con bé, những vệt roi chồng chéo nhau, vệt cũ đã thâm đen, vệt mới sưng mọng, có chỗ toác da. Nàng lại tự vén ống tay áo mình. Thân xác cái Hĩm cũng chẳng khá hơn, bắp tay còn hằn nguyên một vết bỏng hình cái muôi.
Trên nhà trên, bác gái Lan ra hiên nhổ bã trầu, thấy hai chị em ngồi chễm chệ ngay cửa bếp thì cau mặt, lạch bạch đi xuống.
"Ngồi đây làm gì? Vào trong! Định bêu xấu nhà này hả?"
Bác túm lấy cánh tay cái Út định lôi vào. Con bé kêu "á" một tiếng vì bị nắm trúng vết roi.
Thanh âm ấy chẳng to, nhưng nàng đã đứng dậy, bàn tay gầy guộc đặt lên cổ tay bác gái, ấn nhẹ vào một chỗ. Bác gái Lan thấy cả cánh tay tê dại, buông ngay con bé ra, trố mắt nhìn đứa cháu.
Nàng nói khẽ, chỉ đủ hai người nghe:
"Bác cứ lôi. Lôi to vào, cho cả ngõ cùng xem."
Bác gái Lan ngoái ra cổng, thấy đã có người đi chợ về thấp thoáng ở đầu ngõ, đành hậm hực buông một câu "rồi chúng mày biết tay", quay lên nhà trên.
Chẳng mấy chốc, ngoài ngõ đã có người dừng chân.
"Ơ kìa, cái Hĩm nhà chú Hai đấy à? Sao máu me đầy mặt thế kia?"
Người lên tiếng là thím Chi, vợ chú Lương Phú ở sát ngõ. Thím vừa đi chợ về, quang gánh còn trên vai, thấy cảnh ấy thì đặt vội gánh xuống, chạy vào sân.
Nàng không khóc, chỉ khẽ nói:
"Thím ạ, cháu bị bà đẩy ngã, đập đầu vào hòn đá kê cột."
Giọng nàng không lớn, nhưng đủ để mấy người đứng ngoài cổng nghe rõ từng chữ.
Thím Chi ôm lấy mặt nàng, nhìn vết thương sau gáy thì hít một hơi lạnh:
"Trời đất ơi, toác cả da đầu ra thế này! Thế mà không ai mời thầy à?"
Cái Út òa lên:
"Bà không cho, thím ơi! Bà bảo cháu ăn trộm trứng, cháu không ăn trộm..."
Thím Chi nhìn đến hai cánh tay tím bầm của con bé, đôi mắt đỏ lên. Mấy bà ngoài ngõ cũng lục tục kéo vào, người này kéo người kia, chẳng mấy chốc khoảng sân hẹp đã chật kín người. Có bà che miệng, có ông cụ chống gậy lắc đầu, mấy đứa trẻ con thì leo lên bờ rào ngó vào.
"Ác quá! Ác quá đi mất! Đánh trẻ con như đánh trâu thế này à?"
"Nhà này xưa nay vẫn thế, chú Hai đi rồi, ba đứa nhỏ khổ không ai bằng."
"Tôi đã bảo rồi, mẹ chúng nó chết cũng là vì không có thầy có thuốc..."
Bà Trần ở xóm dưới, người hay đi cấy thuê, đứng nhìn hồi lâu rồi buột miệng:
"Con bé này ngày thường bị đánh có bao giờ kêu đâu. Hôm nay mà nó ngồi ra đây thì phải đau lắm rồi."
Một ông cụ chống gậy gật gù tiếp lời:
"Thằng Hai đi lính thay anh nó, giờ con nó ra nông nỗi này. Trời có mắt thì trời xem."
Nàng ngồi lặng, nghe hết. Nàng không cần phải kể thêm một câu nào. Đời trước, nàng từng học một bài ở lớp tâm lý chiến: muốn người ta tin, đừng nói nhiều, hãy để họ tự thấy, tự nói với nhau. Lời người ta tự nói ra thì người ta tin hơn lời mình kể gấp trăm lần.
Đúng lúc ấy, từ đầu ngõ vang lên tiếng ho khù khụ. Đám đông dạt ra hai bên.
Ông Xã trưởng – cụ Lý – râu tóc đã điểm bạc, mặc áo the thâm, bước vội vào, bên cạnh là bà Lý tay vẫn còn cầm nắm rau đang nhặt dở. Cu Tũn chạy phía sau, thở hồng hộc, mặt đỏ như gấc.
Ông Xã trưởng nhìn thấy đứa con gái mặt đầy máu ngồi trên bậc cửa thì khựng lại, chòm râu run run.
"Con bé... sao ra nông nỗi này?"
Bà Lý thì chẳng nói chẳng rằng, sà ngay xuống, nâng đầu nàng lên xem rồi kêu lên:
"Ông ơi, vết này sâu lắm! Chậm chút nữa là mất mạng như chơi!"
Tiếng ồn ào ngoài sân cuối cùng cũng lôi được người nhà trên ra. Bà nội Đào bước ra hiên, thấy cả xóm kéo đến thì mặt biến sắc, nhưng chỉ trong chớp mắt đã lấy lại vẻ hung hăng. Bà chống nạnh, giọng rít lên chói tai:
"Các người kéo đến nhà tôi làm gì? Nhà tôi dạy cháu, liên quan gì đến ai! Con Út ăn trộm trứng, con Hĩm bênh em, ngã thì tự nó ngã. Đồ ăn trộm thì đáng đời!"
Cả sân im phắc.
Câu ấy vừa thốt ra, nàng biết bà nội đã tự đào hố chôn mình. Đứa cháu nằm bê bết máu chưa ai lau, mà bà nội vẫn còn đứng đấy rủa "đáng đời", thì dù có ngàn cái lý cũng chẳng ai đứng về phía bà nữa.
Ông Xã trưởng giận đến run cả tay, gậy trúc gõ "cộc" xuống nền sân:
"Bà Đào! Cháu bà suýt chết, bà còn nói được câu ấy à?"
Bà nội cứng họng một thoáng, rồi lại gân cổ:
"Nó chết đâu mà chết! Nó còn ngồi đấy trợn mắt lên kia kìa!"
Nàng chậm rãi đứng dậy. Cái Út và cu Tũn vội đỡ hai bên. Nàng không quỳ, cũng chẳng khóc lóc, chỉ cúi đầu chào ông Xã trưởng và bà Lý, rồi quay ra phía bà con, nói rành rọt:
"Thưa ông Xã, thưa các bác các chú. Em cháu không ăn trộm trứng. Cháu không có bằng chứng để nói ngay bây giờ, nhưng cháu xin làng phân xử cho ra lẽ. Nếu em cháu có tội, cháu xin chịu đòn thay. Nếu em cháu không có tội, cháu xin làng cho ba chị em cháu ra ở riêng."
Lời vừa dứt, cả sân xôn xao như ong vỡ tổ.
Ra ở riêng? Con gái mười sáu tuổi, dắt theo hai đứa em, xin tách khỏi nhà nội? Ở làng Hạ Vân này, chuyện ấy xưa nay chưa từng có.
Bà nội Đào trợn trừng mắt, chỉ tay vào mặt nàng:
"Mày... mày muốn bỏ bà mày à? Đồ bất hiếu! Đồ phản trắc! Tao nuôi chúng mày ngần ấy năm..."
Nàng nhìn thẳng vào bà, giọng vẫn đều đều:
"Bà nuôi chúng cháu thế nào, các bác các chú đều thấy cả. Cháu chỉ sợ ở thêm vài hôm nữa, đến lượt em cháu nằm dưới hòn đá kia."
Một câu nhẹ như không, mà khiến mấy bà đứng gần rùng mình. Ánh mắt mọi người lại đổ dồn về vệt máu đỏ thẫm bên chân cột.
Bác gái Lan đứng sau lưng mẹ chồng, mấy lần định mở miệng rồi lại thôi. Bác cả Đào Văn Tài từ ngoài đồng về, thấy cảnh ấy thì đứng tần ngần ở cổng, chẳng dám bước vào.
Ông Xã trưởng thở dài một hơi thật dài. Ông nhìn ba đứa trẻ đứng sát vào nhau, đứa nào cũng gầy như que củi, lại nhìn bà nội Đào mặt mày hằm hằm, trong lòng đã có tính toán.
Bà Lý thì chẳng đợi chồng, quay ra gọi con trai:
"Đại Hà! Mày chạy ngay sang nhà ông lang Tô, bảo ông mang hòm thuốc sang đây, nhanh lên! Bảo là có người vỡ đầu!"
Lý Đại Hà dạ một tiếng, ba chân bốn cẳng chạy đi.
Bà nội Đào thấy thế thì cuống, chạy xuống bậc hiên, giọng the thé:
"Mời thầy thì ai trả tiền? Tôi không trả đâu nhé! Ai mời thì người ấy trả!"
Bà Lý quay lại, nhìn bà nội từ đầu đến chân, chậm rãi nói:
"Cháu bà, bà đánh, thì bà trả. Bà không trả thì để làng tính."
Mấy bà đứng quanh cười khẩy. Bà nội Đào đỏ mặt tía tai, đứng trơ ra giữa sân như phỗng đá, muốn chửi mà chẳng biết chửi ai.
Bà Lý lại quay sang nàng, giọng dịu hẳn xuống:
"Cháu ngồi xuống đi, đừng gắng. Có bà ở đây, có ông ở đây, không ai làm gì được cháu đâu."
Nàng ngồi xuống bậc cửa, hai em nép hai bên. Bàn tay nhỏ của cái Út vẫn nắm chặt vạt áo chị, run run.
Nàng khẽ siết tay em, trong lòng thầm nghĩ: Bước thứ nhất, xong rồi.