Chừng một khắc sau, ông lang Tô đến.
Ông đã ngoài sáu mươi, người gầy, lưng hơi còng, râu tóc bạc phơ, khoác cái áo nâu bạc màu, vai đeo hòm thuốc bằng gỗ mít đã lên nước bóng loáng. Người làng Hạ Vân ai cũng quý ông, vì ông chữa bệnh lấy tiền rẻ, nhà nào nghèo quá thì ông cho nợ, có khi cho không.
Ông lang chẳng nói chẳng rằng, đặt hòm thuốc xuống, nâng đầu nàng lên soi dưới nắng. Mấy ngón tay khô gầy vạch tóc ra, ấn nhẹ quanh vết thương, rồi lại bắt mạch hai cổ tay, lật mí mắt nàng ra nhìn.
Một lúc lâu, ông mới thở hắt ra, lắc đầu:
"Vỡ da đầu, máu bầm ở trong, khí huyết hư tổn. Con bé này vốn đã thiếu ăn thiếu ngủ, lại mất ngần này máu, mạng sống chỉ còn treo trên sợi tóc."
Bà Lý kêu lên một tiếng. Cái Út sợ quá, mếu máo ôm lấy chị.
Ông lang Tô vuốt râu, quay sang bà nội Đào, nói chậm rãi từng chữ:
"Muốn cứu thì phải đắp thuốc cầm máu, uống thuốc tan máu bầm, sau đó bồi bổ ít nhất một tháng. Nhân sâm, đương quy, tam thất, thứ nào cũng không thiếu được. Tính cả tiền thuốc, phải hai mươi lạng bạc."
"Hai mươi lạng?"
Bà nội Đào giãy nảy lên như đỉa phải vôi, giọng the thé vỡ cả ra:
"Ông lang ăn cướp à? Hai mươi lạng thì mua được mấy sào ruộng! Một đứa con gái, nuôi lớn rồi cũng gả đi, tốn ngần ấy tiền vào nó để làm gì?"
Ông lang Tô thản nhiên:
"Thế thì bà cứ để đấy. Có điều cháu bà mà chết, người làng ai cũng thấy nó ngã vì đâu."
Bà nội cứng họng, mặt đỏ tía tai, rồi lại hạ giọng mặc cả:
"Ông lang bớt cho. Năm trăm đồng thôi, tôi đưa ngay."
Ông lang Tô lắc đầu, đến nhìn bà cũng chẳng buồn:
"Thuốc cứu mạng, không phải mớ rau mà mặc cả. Bà thích thì chữa, không thích thì thôi."
Mấy người đứng xem cười khẩy. Ai trong làng cũng biết ông lang Tô chữa bệnh chẳng bao giờ lấy đắt, có khi chữa không cho người nghèo. Hôm nay ông buông giá cắt cổ như vậy, chẳng ai trách ông, chỉ thấy bà nội Đào bị hỏi tiền mà nhảy dựng lên thì đáng cười.
Nàng ngồi trên bậc cửa, nghe ông lang nói giá mà trong lòng khẽ động. Nàng không biết giá thuốc ở thời này, nhưng nàng từng làm việc với đủ loại người, đủ để nhìn ra khi nào người ta nói thật, khi nào người ta đang diễn. Ông lang nói đến hai chữ "hai mươi lạng" mà mắt không nhìn vết thương, lại liếc sang bà nội Đào, như người đi câu đang chờ cá cắn.
Nàng không lên tiếng, chỉ lặng lẽ ghi nhớ.
Một lúc sau, bà quay ra phía bà con, đổi giọng kể lể, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng:
"Các bác ơi, các chị ơi, nhà tôi lấy đâu ra hai mươi lạng! Thằng Hai đi lính chết rồi, vợ nó cũng chết, để lại ba cái của nợ, tôi nuôi chúng nó ăn học đã còng cả lưng. Nay chúng nó còn trộm của tôi, tôi dạy có mấy roi, nó bênh em rồi tự ngã, giờ lại đổ lên đầu bà già này!"
Bác gái Lan cũng chen vào, giọng ngọt sớt:
"Đúng đấy ạ. Rổ trứng nhà tôi để trên gác bếp, từ hôm qua đã mất năm quả. Cả nhà chẳng ai đụng vào, chỉ có con Út suốt ngày lảng vảng quanh chuồng gà. Không phải nó thì còn ai?"
Câu ấy vừa thốt ra, đám đông bỗng chùng xuống.
Năm quả trứng, với nhà nghèo trong làng không phải chuyện nhỏ. Mấy người đàn bà đứng gần cổng bắt đầu ghé tai nhau, rồi gật gù.
"Nói thế cũng phải, trẻ con đói thì ăn vụng là chuyện thường."
"Con nhà đói thì ăn vụng cũng chẳng lạ. Chỉ có điều bà ấy đánh nặng tay quá."
"Ăn trộm thì đáng phạt thật, nhưng phạt đến vỡ đầu thì..."
Nàng nghe rõ từng câu.
Nàng quay sang nhìn cái Út. Con bé cúi gằm mặt, hai tay vò vạt áo đến nhàu nhĩ, đôi vai gầy run lên từng chặp. Nó không dám ngẩng lên, vì nó biết mọi ánh mắt đang nhìn nó như nhìn một đứa ăn cắp.
Nàng chợt thấy nghẹn ở cổ.
Mười hai tuổi. Mười hai tuổi ở đời trước của nàng là tuổi được bố mẹ đèo đi học, được giận dỗi vì không được mua cặp mới. Còn ở đây, mười hai tuổi đã phải gánh tiếng ăn cắp trước cả xóm, mà người vu cho nó lại chính là bà nội ruột.
Nàng hít sâu, bắt mình bình tĩnh. Giận thì được gì? Muốn gỡ tội cho em, phải có chứng cứ.
Đời trước nàng từng theo đội điều tra mấy vụ án, cái mà nàng học được nhiều nhất là: kẻ có tật thì hay giật mình. Nàng lặng lẽ đưa mắt nhìn khắp người nhà họ Đào.
Bà nội vẫn đang kể lể. Bác gái Lan đứng khoanh tay. Bác cả Tài đứng ngoài cổng, mặt đực ra. Thằng Cột, thằng Kèo đứng dựa cột hiên, nhìn ngó ra chiều thích thú lắm.
Chỉ có một đứa là khác.
Thằng Xà, con út nhà bác cả, mười ba tuổi, cứ lấm lét đứng nép sau lưng bà nội, nửa người giấu sau cây cột. Lúc ông lang nói đến chữ "chết", nó giật nảy người. Lúc bác gái Lan nhắc đến năm quả trứng, nó lại cúi gằm, mắt đảo như rang lạc.
Nàng nhìn kỹ hơn. Ống tay áo bên phải của thằng bé dính một vệt đen sì, kéo dài từ cổ tay lên gần khuỷu. Đó không phải bùn, cũng không phải đất. Đó là bồ hóng – thứ muội đen chỉ dính lên người khi thò tay vào đống than hay chạm vào thứ gì đã bị hơ lửa.
Mà gian bếp nhà này, từ sáng đến giờ chưa ai nhóm lửa, vì cái Hĩm là người thổi cơm, mà cái Hĩm thì đang nằm dưới đất.
Trong lòng nàng thầm nghĩ: Thì ra là mày.
Nàng không lên tiếng ngay. Một vệt bồ hóng trên tay áo chưa đủ để buộc tội ai, chỉ đủ để rút dây động rừng. Nàng chỉ ghi nhớ hướng thằng Xà vừa liếc mắt – về phía bờ tre sau nhà.
Ông lang Tô đã mở hòm, lấy ra một nắm lá giã sẵn đắp lên vết thương cho nàng, rồi băng lại bằng một dải vải trắng. Thuốc mát lạnh, mùi hăng hắc xộc lên mũi, cơn đau dịu đi được một nửa.
Ông lại bóc một gói bột nâu, hòa với nước ấm, đỡ đầu nàng cho uống. Thuốc đắng nghét, nàng nhăn mặt nuốt một hơi cạn sạch. Ông lang gật gù, khẽ nói, chỉ đủ nàng nghe:
"Con bé này uống thuốc không kêu một tiếng, gan đấy."
Nàng nhìn ông, ông nhìn nàng, chẳng ai nói thêm gì, nhưng nàng có cảm giác ông lão này đã đọc được điều gì đó trong mắt mình.
Ông Xã trưởng nhìn bên này, ngó bên kia, lòng biết rõ chuyện không thể phân xử qua loa giữa sân nhà người ta. Ông cũng biết, nếu hôm nay ông phẩy tay cho qua, ba đứa nhỏ này khó mà sống đến cuối năm.
Ông chống gậy đứng thẳng lên, nói lớn:
"Thôi! Chuyện trứng mất, chuyện cháu ngã, ai đúng ai sai không thể cãi nhau ở đây cho hết được. Tối nay, giờ Tuất, tôi mời các cụ trong hội đồng kỳ mục ra đình. Nhà bà Đào đến cả, ba đứa nhỏ cũng đến. Ai có điều gì muốn nói thì ra đình mà nói trước mặt làng."
Bà nội Đào bĩu môi:
"Ra đình thì ra! Tôi việc gì phải sợ ba đứa ranh!"
Ông Xã trưởng không thèm nhìn bà, chỉ quay sang dặn bà Lý:
"Bà ở lại trông con bé một lát. Từ giờ đến tối, không ai được động đến ba đứa nó một sợi tóc. Ai động vào, tôi trình quan."
Câu ấy nói ra, bà nội Đào cũng phải im.
Người làng lục tục giải tán, vừa đi vừa bàn tán. Có người thương ba chị em, có người lắc đầu bảo con bé dại, có người vẫn đinh ninh cái Út ăn vụng. Thím Chi trước khi về còn dúi vào tay cái Út hai củ khoai luộc, dặn khẽ:
"Ăn đi cho có sức, tối còn ra đình."
Bà Lý ngồi lại, lấy khăn lau máu trên mặt cho nàng, vừa lau vừa xuýt xoa. Bà nội Đào đứng trên hiên trừng mắt nhìn xuống, nhưng có bà Lý ở đó thì chẳng dám làm gì.
Lau xong, bà Lý nhìn nàng một hồi, thở dài:
"Cháu càng lớn càng giống mẹ. Ngày mẹ cháu mới về làng, gầy gò thế này, hỏi gì cũng chỉ lắc đầu bảo không nhớ. Vậy mà hiền lành, khéo tay lắm. Bà còn nhớ mẹ cháu thêu cho bà cái khăn hoa mai, đến giờ bà vẫn giữ."
Nàng khẽ hỏi:
"Bà ơi, mẹ cháu về làng từ bao giờ ạ?"
"Từ hồi bố cháu còn trai tráng. Mẹ cháu ngủ nhờ ở đền Bà Chúa Kho đầu tổng mấy hôm, ốm lả đi, bố cháu đi chợ về nhặt được, cõng về. Bà nội cháu không ưa, bảo con gái không rõ gốc gác, mà bố cháu thì nhất định cưới."
Bà Lý nói đến đó thì ngừng lại, như sợ nói nhiều làm con bé buồn. Bà vỗ vỗ tay nàng:
"Thôi, chuyện cũ không nhắc nữa. Cháu nghỉ đi."
Nàng gật đầu, tay vô thức chạm lên miếng ngọc trên cổ. Đền Bà Chúa Kho, nàng ghi nhớ thêm một cái tên.
Cái Út bẻ đôi củ khoai, đưa nửa to cho chị, nửa nhỏ cho anh, còn mình thì chẳng ăn. Nó ngước đôi mắt sưng húp lên, thì thào:
"Chị ơi, em không lấy trứng thật mà. Tối nay ra đình, các cụ có tin em không?"
Nàng đẩy nửa củ khoai về phía em, nhìn về phía bờ tre sau nhà, nơi mấy cây tre già đang đung đưa trong gió.
"Ăn đi. Chuyện còn lại, để chị lo."