Sân đình dần lặng xuống. Ai cũng biết "việc thứ hai" mà con bé nhắc là việc gì.
Cụ tiên chỉ vuốt chòm râu, liếc sang ông Xã trưởng. Ông Xã trưởng gật đầu, đứng dậy, nói lớn:
"Cháu Hĩm xin cho ba chị em ra ở riêng. Bà con nghĩ thế nào?"
Bà nội Đào vừa nghe đến đấy đã như sống lại, gào lên:
"Không được! Chúng nó là cháu nội tôi, máu mủ ruột rà, bỏ bà mà đi là bất hiếu, trời đánh thánh vật! Các cụ cho chúng nó ra ở riêng thì khác gì dạy con cháu cả làng này bỏ ông bỏ bà!"
Mấy cụ già trên chiếu nhìn nhau. Lời ấy nói ra, dẫu từ miệng một mụ ác, vẫn chạm đúng chỗ mà các cụ ngại nhất. Chữ hiếu nặng như núi, xưa nay làng chưa từng có tiền lệ cháu bỏ bà.
Nàng hiểu điều đó. Nàng cũng đã đoán trước bà nội sẽ lôi chữ hiếu ra làm bình phong.
Nàng bước lên, chắp tay thưa:
"Thưa các cụ, cháu không dám bỏ hiếu. Nhưng cháu nghe ông bà dạy, hiếu là con cháu kính người trên, còn người trên cũng phải thương kẻ dưới. Bà cháu sáng nay đánh cháu vỡ đầu, để mặc nằm đất nửa canh giờ không cho mời thầy, lại biết rõ ai ăn trộm mà vẫn đổ cho em cháu. Bố cháu thì bà ép đi lính thay bác cả, mẹ cháu ốm thì bà không cho chạy thầy. Cháu xin hỏi các cụ, ở thêm trong nhà ấy, ba chị em cháu còn sống được đến bao giờ?"
Từng câu từng chữ rành rọt, không cao giọng, không khóc lóc, mà cả sân đình nghe rõ mồn một.
Ông lang Tô ở chiếu dưới gật gù tiếp lời:
"Cháu nó nói phải. Thằng bé, con bé nhà chú Hai đứa nào trên người cũng đầy lằn roi, tôi đã xem tận mắt. Hôm nay may còn cứu được, lần sau thì chưa biết."
Bà Lý cũng nói to từ phía sau:
"Thưa các cụ, chú Hai đi lính thay nhà ấy, nay chưa rõ sống chết. Làng mà để con chú ấy chết dưới tay nhà ấy thì còn mặt mũi nào nhìn hồn chú ấy về!"
Một người nói, mười người hùa theo.
"Phải đấy, cho chúng nó ra ở riêng!"
"Ở với mụ ấy thì có ngày chết cả!"
Cụ tiên chỉ giơ tay. Đám đông lại lặng xuống.
Cụ trầm ngâm hồi lâu, rồi nói chậm rãi:
"Chuyện cháu bỏ bà, làng ta xưa nay chưa có. Nhưng chuyện bà đánh cháu suýt chết, đổ oan cho cháu, làng ta cũng xưa nay chưa có. Cây ngay không sợ chết đứng. Đã có lẽ phải, thì lẽ phải đứng trên lệ làng."
Cụ quay sang ông Xã trưởng:
"Ông Xã, ông viết giấy."
Ông Xã trưởng gọi người mang bàn con, nghiên mực, giấy bản ra. Ánh đuốc lập lòe hắt lên mặt giấy trắng. Mọi người nín thở nhìn ông cầm bút.
Nàng lên tiếng:
"Thưa ông Xã, cháu xin được thưa mấy điều cần ghi."
Ông Xã trưởng gật đầu.
Nàng nói từng điều, như đã nghĩ kỹ từ trước:
"Một, ba chị em cháu ra ở riêng, từ nay sống chết tự lo, không phiền đến nhà cũ. Hai, nhà cũ không được đòi hỏi tiền nong, công sức, không được đánh mắng, không được bước chân sang chỗ ba chị em cháu ở. Ba, những thứ của bố mẹ cháu còn trong nhà ấy thì được mang đi."
Bác gái Lan trợn mắt:
"Của nả gì! Bố mẹ chúng mày có cái gì mà đòi mang đi?"
Nàng thản nhiên:
"Có hay không, bác biết rõ hơn cháu."
Bác gái Lan cứng họng, quay đi chỗ khác.
Sở dĩ nàng phải ghi rõ đến từng điều là vì nàng hiểu, ở cái làng này, lời hứa miệng chẳng bền bằng sợi chỉ. Bà nội Đào hôm nay sợ làng, mai kia làng quên, bà sẽ lại sang gây chuyện, lại lôi chữ hiếu ra, lại đòi cháu đi làm không công. Có tờ giấy, có dấu tay ông Xã trưởng, có tên các cụ, sau này bà muốn trở mặt cũng không được.
Ông Xã trưởng viết xong, đọc to lên một lượt cho cả sân đình nghe. Rồi ông nói thêm:
"Ngoài ra, nhà bà Đào vu oan, đánh cháu suýt chết, làng phạt như sau: đưa ba đứa nhỏ hai lạng bạc chia phần ra ở riêng, chịu tiền thuốc men cho cháu Hĩm, và nộp một mâm xôi, một mâm thịt khao làng để tạ lỗi trước đình."
"Hai lạng?"
Bác cả Tài cuối cùng cũng mở miệng, giọng méo xệch:
"Ông Xã ơi, nhà tôi lấy đâu ra hai lạng..."
Cụ tiên chỉ nhìn bác, ánh mắt sắc như dao:
"Không có thì làng trình quan huyện, để quan xét tội đánh chết hụt cháu, vu oan giá họa. Đến lúc ấy thì không phải hai lạng nữa đâu."
Nghe đến chữ "trình quan", bác cả Tài rụt cổ lại như con rùa, chẳng dám ho he.
Ông Xã trưởng đặt tờ giấy lên bàn, thấm mực son vào ngón tay cái, ấn mạnh xuống cuối tờ giấy. Rồi đến lượt các cụ trong hội đồng kỳ mục, người ký tên, người điểm chỉ, mỗi cái tên là một lời làm chứng. Cuối cùng, ông gọi bà nội Đào lên.
Bà nội đứng lì một chỗ, nghiến răng.
Ông Xã trưởng nói lạnh:
"Bà không điểm chỉ thì tôi cứ thế mang lên huyện, ghi rõ bà cứng đầu không theo lệ làng. Bà tự chọn."
Bà nội Đào nhìn quanh. Mấy chục con mắt đang nhìn bà, không có một ánh mắt nào thương hại. Ngay cả mấy bà bạn hay ngồi lê đôi mách với bà ở giếng làng giờ cũng quay đi.
Bà run run bước lên, chấm ngón tay vào mực, ấn xuống. Ngón tay bà run đến mức dấu tay nhòe đi một nửa.
Đến lượt nàng. Nàng ấn ngón tay xuống thật chắc, rồi bảo cu Tũn và cái Út cũng ấn theo. Cái Út nhìn dấu tay nhỏ xíu đỏ chót của mình bên cạnh dấu tay của các cụ, mắt sáng lên như sao.
Ông Xã trưởng thổi cho khô mực, gấp tờ giấy lại cẩn thận:
"Giấy này làng giữ một bản, cháu giữ một bản. Phiên chợ tới tôi mang lên huyện xin đóng dấu, từ đấy về sau là giấy có quan chứng."
Bà nội Đào bị bác gái Lan kéo về nhà lấy bạc. Một lúc sau, bà quay lại, ném "cạch" hai nén bạc nhỏ xuống trước mặt nàng như ném cho chó, rồi lại ném thêm cho ông lang Tô một lạng, rít qua kẽ răng:
"Tiền thuốc đấy! Nhà tôi hết sạch rồi, ông có giết tôi cũng chỉ có thế!"
Ông lang Tô chẳng giận, chỉ thong thả nhặt lên, cất vào hòm thuốc.
Nàng cúi xuống nhặt hai nén bạc, đưa lên trước các cụ:
"Thưa các cụ, cháu nhận đủ."
Mâm xôi mâm thịt khao làng thì hẹn sáng mai. Nghe đến đó, mấy ông đàn ông trong làng cười ồ, bảo "mai lại được ăn cỗ của bà Đào", tiếng cười ấy rơi vào tai bà nội chẳng khác gì muối xát.
Bà nội Đào đứng giữa sân, mặt xám ngoét như tro bếp. Bà mở miệng, muốn chửi, muốn gào, muốn rủa con bé kia chết không toàn thây. Nhưng nhìn quanh, ánh đuốc soi lên từng khuôn mặt, khuôn mặt nào cũng lạnh tanh. Không một ai đứng về phía bà.
Bà ngậm miệng lại, lần đầu tiên trong mấy chục năm.
Chú Ba Đào đứng tít phía cuối, nhìn ba đứa cháu, môi mấp máy như muốn nói gì đó, rồi lại cúi đầu, dìu vợ ra về trước tiên.
Đám đông dần tản đi. Có người đi qua vỗ vai cu Tũn, có người xoa đầu cái Út, có ông cụ chống gậy dừng lại trước mặt nàng, ngắm nghía một hồi rồi gật gù:
"Con bé này giống bố nó. Thằng Hai ngày xưa cũng thẳng như thế."
Nàng cúi đầu cảm ơn, trong lòng chợt ấm lên.
Đêm đã khuya, đuốc trong đình tắt dần. Ba chị em đứng dưới gốc gạo, ngước nhìn trời sao.
Cu Tũn khẽ hỏi:
"Chị ơi, thế là mình không phải về nhà ấy nữa thật à?"
Nàng siết tay em, đáp:
"Ừ. Không bao giờ phải về nữa."
Bà Lý đứng sau từ lúc nào, khoác cho cái Út cái áo của mình, rồi bảo:
"Đêm nay ba đứa sang nhà bà mà ngủ. Về nhà ấy lúc này, ai biết họ còn giở trò gì. Mai trời sáng hẵng về lấy đồ."
Ông Xã trưởng cũng gật đầu:
"Phải đấy. Nhà tôi còn gian chái để thóc, trải chiếu ra là ngủ được."
Nàng không từ chối. Nàng biết rõ, đêm nay mà về nhà cũ, bà nội Đào đang cơn tức, thằng Cột thằng Kèo đang ấm ức, chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Đời trước, bài học xương máu là đừng bao giờ ngủ trong nhà của kẻ vừa thua mình.
Gian chái nhà ông Xã trưởng thơm mùi thóc mới. Bà Lý trải hai manh chiếu, mang sang một tấm chăn bông, lại bưng cho ba đứa ba bát cháo trắng nóng, rắc hành, nêm chút nước mắm. Cu Tũn và cái Út ăn hết sạch, liếm cả thìa, rồi nằm vật ra chiếu, chưa đầy nửa khắc đã ngáy khò khò.
Nàng nằm bên cạnh, nghe tiếng dế kêu ngoài vườn, tay vuốt nhẹ mái tóc rối của em gái.
Một ngày dài nhất đã qua. Nàng chết đi rồi sống lại, gỡ oan cho một đứa trẻ, cắt đứt với cả một nhà. Đời trước có những nhiệm vụ kéo dài cả tháng cũng chưa mệt bằng thế này.
Trong lòng nàng thầm nghĩ: Đây mới chỉ là bắt đầu. Có tờ giấy rồi, nhưng có giấy chưa có nghĩa là có cơm ăn, áo mặc. Ngày mai, mới thật sự là cuộc chiến.
Nàng nhắm mắt lại, lần đầu tiên kể từ lúc tỉnh dậy, ngủ một giấc thật sâu.