Năm giờ sáng thứ Năm, mẹ đi ca. Cánh cửa khép lại, tiếng dép mẹ nhỏ dần trên cầu thang. Sơn còn ngủ, một tay buông thõng xuống mép giường tre.
Ngân đợi thêm một lúc, nghe ngóng hành lang. Bếp chung chưa ai nhóm lửa. Cô nhắm mắt.
Trong vườn, cô làm việc theo thứ tự đã định từ đêm qua. Ba gáo nước giếng trước, đổ vào chiếc nồi nhôm cô ôm theo từ nhà. Từ hôm Chủ nhật cô đã biết chiếc nồi theo cô vào được, ra được, miễn là cô ôm nó trước ngực. Nồi đầy nước thì nặng, phải ôm bằng cả hai tay, nhưng vẫn là thứ ôm được. Luật thứ ba không nói gì về sức nặng.
Rồi cô ra luống.
Cô nhổ mùi cả gốc, rũ đất. Rễ mùi trắng, dài, thơm hơn cả lá. Tía tô thì cô ngắt ngọn, để lại gốc cho đâm nhánh. Kinh giới cũng thế, mỗi bụi chỉ lấy hai phần ba. Cô bó mỗi thứ thành một bó riêng, buộc bằng mấy sợi lạt giang mang từ nhà vào. Ba bó ôm gọn trong một vòng tay.
Cô đứng nhìn mấy luống đất vừa thưa đi, tính nhẩm. Ba ngày nữa mọc lại. Ba ngày nữa lại có từng này.
Khi cô mở mắt trong căn phòng, Sơn vẫn ngủ. Chiếc đồng hồ trên cổ tay chỉ năm giờ hai mươi.
Cô nấu cháo, đút cho bố. Bố lại ăn hết. Mạch sáu mươi lăm.
Rồi cô xuống sân sau khu tập thể, nơi bụi chuối của nhà ông Cảnh tầng một mọc chen giữa đống gạch vỡ. Cô xin ông hai tàu lá. Ông Cảnh đang ngồi đánh răng bằng muối ở bể nước, nhổ một bãi bọt, hất hàm.
"Lấy lá làm gì? Gói bánh à?"
"Cháu gói rau mang biếu người quen ạ."
"Ừ, lấy tàu dưới ấy, đừng lấy tàu non."
Cô hơ lá chuối trên bếp dầu cho mềm, gói ba bó rau lại thành một gói dài, buộc lạt hai đầu. Cô cho vào làn cói, phủ lên một cái khăn mặt cũ. Giấy ra viện của bố và tờ đơn thuốc cô gấp tư, kẹp trong cuốn vở học trò, đặt dưới đáy làn.
Sơn dậy, dụi mắt, nhìn cái làn.
"Chị đi đâu đấy?"
"Chị đi bệnh viện hỏi thuốc cho bố. Em ở nhà trông bố. Ai đến đòi giấy tờ gì thì sao?"
"Gọi bà Lụa, rồi chạy đi gọi mẹ." Nó đáp như học thuộc bài. Rồi nó hỏi thêm: "Chị đi bao lâu?"
"Trưa chị về."
Bệnh viện thị xã nằm ở cuối phố Trần Phú, cách khu tập thể hơn hai cây số. Ngân đi bộ, men theo hàng phượng đã rụng hết hoa. Mặt đường nhựa vá chằng vá đụp, chỗ nào ổ gà còn đọng nước từ trận mưa tuần trước. Mấy chiếc xe đạp Thống Nhất chở bao tải lách qua cô, chuông kêu leng keng.
Phòng chẩn trị y học dân tộc là một dãy nhà cấp bốn ở góc trong cùng của bệnh viện, tách hẳn khỏi khu nhà chính hai tầng quét vôi vàng. Mái ngói đã rêu. Trước hiên phơi mấy nong dược liệu: vỏ quýt cắt sợi, lá ngải khô, một nong gì đó thái lát mỏng màu nâu đỏ mà Ngân nhìn qua đã biết là kê huyết đằng.
Mùi thuốc bắc đón cô từ ngoài sân.
Cô đứng sững lại mất một giây. Mùi ấy, sự pha trộn giữa cam thảo, đương quy, quế chi và gỗ ẩm, giống đến lạ lùng cái mùi trong quầy thuốc của bà chủ cũ ở kiếp trước. Như thể có ai đó mở một ngăn kéo trong trí nhớ của cô mà không gõ cửa.
Trong phòng có một dãy ghế băng gỗ dọc tường, bảy tám người ngồi chờ. Một bà cụ ôm bụng. Một anh bộ đội phục viên tay quấn băng. Một người đàn bà bế đứa con nhỏ đang ho từng tràng khàn đặc. Ở cuối phòng là cả một bức tường tủ thuốc, những ngăn kéo gỗ nhỏ xếp thành hàng, mỗi ngăn dán một mảnh giấy ghi tên vị thuốc bằng mực tàu.
Phía trước tủ thuốc là một cái bàn gỗ. Sau cái bàn, một ông cụ đang bắt mạch.
Ông gầy, gầy đến mức chiếc áo sơ mi trắng cũ như treo trên một cái mắc. Tóc bạc cắt ngắn sát. Ông đeo một cặp kính gọng đồi mồi, một bên gọng sứt, buộc lại bằng một sợi chỉ đen. Ông đặt ba ngón tay lên cổ tay người bệnh, mắt nhắm hờ, rất lâu, lâu đến mức người bệnh bắt đầu sốt ruột nhìn quanh.
Rồi ông mở mắt, nói chậm từng chữ: "Bà ăn uống không điều độ. Bụng hay đầy, ăn xong hay ợ chua. Đúng không?"
"Đúng ạ."
Ông cầm bút, viết lên một mẩu giấy nhỏ. Một cô y tá trẻ đội mũ trắng cầm mẩu giấy ra tủ, mở từng ngăn kéo, cân thuốc bằng một cái cân tiểu ly.
Ngân ngồi xuống cuối ghế băng, cái làn đặt trên đùi. Cô chờ.
Gần mười một giờ, người bệnh cuối cùng ra về. Cô y tá đi xuống khu nhà chính lấy cơm. Ngân đứng dậy, mang cái làn lên đặt cạnh bàn.
Ông lang ngẩng lên. Mắt ông sau cặp kính nhỏ và sáng, như mắt chim.
"Cháu khám gì?"
"Cháu không khám ạ. Cháu là con bố Lê Văn Thành, lái xe ở hợp tác xã mua bán. Bố cháu bị tai nạn lật xe hồi tháng Tư, nằm liệt ở nhà."
Cô rút tờ giấy ra viện và tờ đơn thuốc, đặt lên bàn. Ông cầm lên, đọc. Ông đọc chậm, đọc hết, kể cả mấy dòng chữ ký và con dấu ở cuối.
"Chấn thương sọ não, gãy xương đòn, hôn mê kéo dài." Ông đặt tờ giấy xuống. "Thuốc tây thì phải lĩnh bên hiệu thuốc. Cháu đến đây làm gì?"
"Cháu muốn xin thuốc bổ cho bố cháu ạ. Thuốc thang. Nhà cháu không có tiền trả ngay. Cháu mang cái này đến đổi."
Cô mở cái khăn mặt, gỡ lạt, mở lá chuối ra.
Ba bó rau nằm trên mặt bàn gỗ. Mùi xanh mướt, rễ trắng ngần còn dính đất. Tía tô tím mặt dưới, lá dày, lông tơ mịn. Kinh giới lá nhỏ, thơm hăng. Lá chuối giữ hơi ẩm suốt hai cây số, nên chẳng ngọn nào héo. Mùi rau thơm bốc lên, lấn cả mùi thuốc bắc trong phòng.
Ông lang không nói gì.
Ông cầm một ngọn tía tô lên, xoay lật mặt lá dưới ánh sáng từ cửa sổ. Ông vò nát một lá giữa hai ngón tay, đưa lên mũi ngửi. Ông ngắt một chiếc lá kinh giới, đặt lên đầu lưỡi, nhai chậm. Ông nhón một cây mùi, nhìn vào chùm rễ, lấy móng tay cạy một chút đất dính ở đó, se giữa hai đầu ngón.
Ông se rất lâu.
Ngân bỗng thấy tim mình đập nhanh. Đất trong vườn nâu và xốp, mùi rơm mục và rễ cây. Không phải đất bãi sông Văn Hà, cũng không phải đất đỏ đồi trung du. Một người cả đời cân đong cây cỏ, liệu có nhận ra không?
Ông phủi tay vào vạt áo. Rồi ông nhìn cô. Không phải nhìn lướt qua, mà nhìn thẳng, lâu, qua mắt kính, như cách ông vừa bắt mạch người đàn bà kia.
Ngân không cúi mặt.
"Hái lúc nào?" ông hỏi.
"Sáng nay ạ. Lúc năm giờ."
Ông gật đầu một cái rất nhẹ. Ông không hỏi hái ở đâu.
"Mùi thì phòng này ít dùng," ông nói, giọng vẫn chậm như cũ. "Nhưng tía tô với kinh giới thì ngày nào cũng cần. Mùa này cảm nắng cảm mưa nhiều. Đồ khô hợp tác xã dược liệu giao về toàn lá vụn, mốc một nửa."
Ông cầm ngọn kinh giới lên một lần nữa, như tự nói với mình: "Lá dày thế này..."
Ngân buột miệng.
"Kinh giới vị cay, tính ấm, vào kinh phế và kinh can. Phát hãn giải biểu, khu phong. Sao đen thành kinh giới thán thì chỉ huyết, dùng cho băng huyết, đi ngoài ra máu."
Cô nói một mạch, đúng nguyên văn trong giáo trình năm thứ nhất, đúng cái giọng cô vẫn dùng để giải thích cho khách đứng trước quầy. Nói xong cô mới giật mình, ngậm miệng lại.
Phòng chẩn trị im phăng phắc. Ngoài hiên, một con gà mái lạc từ đâu vào đang bới nong lá ngải.
Ông lang nheo mắt. Một nếp nhăn sâu hằn giữa hai lông mày, rồi giãn ra. Ông không hỏi cô học ở đâu. Ông không hỏi gì cả. Ông chỉ nhìn cô thêm một lúc nữa, rồi quay sang lấy một cuốn sổ bìa cứng trong ngăn kéo bàn, mở ra một trang trắng.
"Tên cháu là gì?"
"Lê Ngọc Ngân ạ."
Ông viết lên đầu trang: *Lê Văn Thành – con gái Ngân mang dược liệu tươi*. Chữ ông nhỏ, nghiêng, đều như kim khâu.
"Tôi là Khang. Vũ Văn Khang. Cháu nghe đây." Ông đặt bút xuống. "Đơn bệnh viện kê thì tôi không đổi được, cái ấy mẹ cháu vẫn phải lĩnh. Nhưng thuốc bổ thì phòng này cắt thang. Thang bổ khí huyết, mỗi tuần hai thang cho người nằm lâu. Cháu mang tía tô, kinh giới, cả ngải cứu nếu có, cứ tươi như thế này. Tôi ghi vào đây, quy ra tiền, trừ vào tiền thang của bố cháu. Thừa thì để đấy. Thiếu thì ghi nợ."
Ngân nghe tim mình đập thình thịch trong lồng ngực gầy.
"Phòng cũng có sổ thu mua dược liệu của dân," ông nói tiếp. "Nhưng sổ ấy phải có xác nhận hợp tác xã, phải cân, phải phơi khô. Tươi thì tôi tính riêng. Tính theo giá phòng thu mua, không cao hơn được. Cháu có bằng lòng không?"
"Cháu bằng lòng ạ."
Ông gật đầu. Rồi ông đứng dậy, chậm chạp, một tay chống xuống mặt bàn, đi ra tủ thuốc. Ông mở từng ngăn kéo, không cần nhìn tên, lấy thuốc bằng tay, rồi mới đặt lên cân. Hoàng kỳ. Đảng sâm. Bạch truật. Đương quy. Thục địa. Cam thảo. Ngân nhìn những lát thuốc rơi xuống tờ giấy bản, gọi tên từng vị trong đầu, và cố giữ cho mặt mình không biểu lộ gì.
Ông gói thành hai gói vuông vức, buộc dây gai.
"Mỗi thang sắc ba bát lấy một bát. Chia làm hai lần, đổ từng thìa nhỏ, đừng để sặc." Ông đặt hai gói thuốc vào làn của cô. "Nằm đã ba tháng, lưng có loét không?"
"Có hai chỗ ở xương cùng, cháu đang rửa nước muối, lau khô, ngày lật người sáu lần ạ."
Ông lại nhìn cô. Lần này ngắn hơn.
"Thứ Bảy tôi nghỉ buổi chiều. Nhà cháu ở đâu?"
Ngân đọc địa chỉ. Khu tập thể hợp tác xã mua bán, dãy B, tầng ba, phòng thứ năm từ cầu thang lên. Ông ghi vào cuối trang sổ.
"Chiều thứ Bảy, tôi đến xem bố cháu."
Ngân đứng thẳng người, khoanh tay trước ngực, cúi đầu thật thấp.
"Cháu cảm ơn ông."
Ông khoát tay, như xua một con ruồi. Cô vừa xách làn đi đến cửa, ông lại gọi.
"Sau phòng có mấy luống thuốc. Ngải cứu với lá lốt mọc lan ra cả lối đi, bà hộ lý cứ kêu. Cháu ra nhổ mấy gốc về mà trồng chậu. Lần sau mang ngải cứu đến cho tôi."
Phía sau dãy nhà cấp bốn là một mảnh đất nhỏ, rào bằng tre. Có mấy luống trồng cây thuốc, cỏ mọc lẫn. Ngải cứu xanh bạc, lan thành từng đám. Lá lốt bò sát đất, lá bóng như phết dầu. Cạnh đó có một luống hương nhu, một gốc đinh lăng đã cao quá đầu người.
Ngân ngồi xổm, nhổ năm gốc ngải cứu có cả rễ bò dưới đất, bẻ sáu ngọn lá lốt có đốt rễ. Cô gói vào phần lá chuối còn lại, xếp bên cạnh hai gói thuốc.
Lúc đứng lên, cô thấy chân mình run.
Không phải vì mỏi. Cô đứng yên giữa mảnh vườn thuốc nhỏ của bệnh viện, nắng trưa rọi thẳng xuống đỉnh đầu, và cô nhận ra lần đầu tiên kể từ cái đêm ở quầy thuốc, cô vừa làm được một việc ra hồn. Không phải bằng cách cãi lý với bà nội. Không phải bằng cách lục sổ sách của bố. Mà bằng chính cái nghề cô đã sống với nó mười năm.
Hai gói thuốc. Hai thang bổ khí huyết. Một trang sổ có tên bố.
Cô đi về, bước nhanh hơn lúc đi.
Trên đường về cô tính. Ngải cứu là cây lâu năm, rễ bò, cắm xuống đất vườn thì chỉ hai ngày là lan kín một luống. Lá lốt ưa ẩm, trồng sát thành giếng là tốt nhất. Kinh giới đã có, nhưng cần nhiều hơn. Tía tô cần gieo thêm. Mảnh đất một sào kia mới dùng chưa được một góc nhỏ.
Nếu tối nay cô vào sớm, làm cho kỹ, làm hết một lượt.
Cô xốc lại cái làn trên tay. Hai gói thuốc vuông vức nằm dưới tán lá ngải cứu, nặng một cách dễ chịu.