Bốn giờ sáng thứ Ba, rau mùi trong vườn đã cao hai đốt ngón tay.
Ngân đứng ôm xô nước giếng, nhìn luống đất cạnh gian bếp. Hai lá mầm hôm qua giờ đã có thêm một lá thật ở giữa, xẻ thùy, đúng hình lá mùi. Luống tía tô lên đều, những cặp lá nhỏ xíu, mặt trên xanh, mặt dưới đã ửng tím. Luống kinh giới cuối cùng cũng chịu nhú, lấm tấm như ai rắc bột xanh lên đất.
Cô muốn ngồi lại xem thêm. Nhưng hôm nay có việc.
Ra khỏi vườn, cô nấu vội nồi cháo cho bố, ủ trong cái chăn bông cũ cho giữ nóng, dặn mẹ một câu rồi cầm sổ mua hàng và mấy hào lẻ mẹ để trên bàn, chạy xuống cầu thang.
Trời chưa sáng hẳn. Đèn đường vàng vọt. Cửa hàng mậu dịch đầu phố còn đóng im ỉm, nhưng trước cửa đã có một hàng dài.
Không phải hàng người. Hàng đồ vật.
Một viên gạch vỡ. Một cái rổ thủng. Một chiếc dép tổ ong đứt quai. Một cái mũ cối. Một hòn đá to bằng nắm tay buộc dây chun. Mỗi thứ là một người đang ở đâu đó, ngủ thêm, nấu cơm, hay đứng lẩn trong bóng tối hút thuốc lào, chờ cửa mở là xông ra đứng thế vào chỗ đồ vật của mình.
Ngân đứng cuối hàng, sau một cái nón mê. Cô không có gì để đặt. Cô đứng bằng chính mình.
Sáu giờ, cửa mở.
Chỉ trong vài giây, hàng đồ vật biến thành hàng người, chen chúc, xô đẩy, cãi nhau. Một bà chửi một ông vì ông đá viên gạch của bà ra khỏi hàng. Một cậu thanh niên bảo cái mũ cối là của cậu, một chị bảo là của chị. Ngân bị đẩy lùi mấy bước, rồi lại tiến lên được mấy bước.
Đằng sau quầy, chị mậu dịch viên đứng chống nạnh. Chị chừng ba mươi tuổi, tóc búi cao, mặc áo blu trắng đã ngả màu cháo lòng, tay áo xắn. Cạnh chị là một cái mẹt lớn xếp những bìa đậu trắng ngà, còn bốc hơi nhẹ, mới ở lò ra.
"Trật tự! Ai chen là tôi đóng cửa! Đứng cho thẳng hàng vào!"
Cả hàng lặng đi một nhịp. Rồi lại ồn.
Chị mậu dịch viên làm việc rất nhanh. Cầm sổ, lật, nhìn, đánh dấu bằng bút chì, nhận tiền, cắt đậu bằng con dao phay mỏng, hất vào rổ của người mua, gọi người tiếp theo. Không ngẩng lên. Không cười. Một bà cụ đưa tờ tiền nhàu, chị gắt: "Tiền lẻ đâu? Đưa tờ thế này tôi lấy đâu ra mà trả lại?"
Đến lượt người đàn ông đứng trước Ngân. Ông mặc áo đại cán, có vẻ không phải người khu này.
"Cô bán cho tôi bốn bìa. Tôi không có sổ ở đây, sổ nhà tôi ở dưới huyện. Tôi trả thêm."
Chị mậu dịch viên lần đầu tiên ngẩng lên.
"Trả thêm? Tiền à?" Chị cười khẩy. "Tiền thì ai chả có. Không có sổ thì đứng ra cho người khác mua. Người tiếp!"
Ông kia đỏ mặt, lầm lũi đi ra. Không ai nhìn theo ông.
Ngân đưa cuốn sổ của nhà mình. Chị mậu dịch viên lật đến trang tháng Bảy, dò ngón tay xuống.
"Nhà bốn khẩu. Tuần này được hai bìa." Chị liếc lên. "Mua cả hai?"
"Vâng ạ."
Ngân đặt mấy hào lên quầy. Rồi, gần như không kịp nghĩ, cái thói quen của người đứng quầy kiếp trước đã bật ra trước:
"Chị ơi, chỗ đậu vỡ kia chị có bán riêng không ạ? Cháu mua thêm, tính rẻ cho cháu cũng được."
Ở góc mẹt có mấy miếng đậu bị vỡ, bị dập, xếp lẫn lộn. Ở thế kỷ của cô, hàng lỗi thì bán hạ giá, ai cũng hiểu thế.
Chị mậu dịch viên nhìn cô từ đầu đến chân. Mấy người đứng sau bắt đầu xì xào.
"Mua thêm? Tính rẻ?" Chị nhắc lại từng chữ, giọng to hẳn lên. "Mày tưởng đây là chợ à? Đậu vỡ cũng là đậu của Nhà nước. Sổ nhà mày được hai bìa là hai bìa. Muốn mua thêm, muốn mặc cả, thì ra chợ đen mà mua. Ở đây không có tính rẻ tính đắt gì hết!"
Có người cười. Có người lắc đầu. Một bà đứng sau Ngân lẩm bẩm: "Con bé nhà ai mà dại thế."
Ngân cúi đầu nhận hai bìa đậu, gói vào lá chuối mang theo.
"Cháu xin lỗi chị ạ."
Chị mậu dịch viên đã không còn nhìn cô. "Người tiếp!"
Ngân đi ra khỏi đám đông, hai má nóng ran. Không phải vì xấu hổ. Mà vì cô vừa hiểu ra một điều đơn giản đến mức cô bé Cá nào cũng biết, chỉ có cô là không.
Ở đây, tiền không mua được mọi thứ. Cuốn sổ mới mua được. Tờ phiếu mới mua được. Người đàn ông áo đại cán có tiền mà phải đi tay không. Còn cô, có cuốn sổ, thì được hai bìa đậu. Không hơn một miếng.
Phiếu mới là tiền thật.
Cô mang đậu về nhà, đợi mẹ đút cháo cho bố xong rồi mới đi tiếp.
Chợ Văn Hà nằm cạnh bến sông, cách khu tập thể chừng hai cây số. Ngân đi bộ. Mặt trời đã lên, hơi đất sau những trận mưa tuần trước bốc lên nồng và ngột. Dọc đường, ruộng lúa chiêm hai bên vẫn nằm rạp, nhiều chỗ thối đen, mấy người nông dân lội ruộng nhặt nhạnh những bông còn sót.
Chợ nhỏ hơn cô tưởng. Mấy dãy lều lợp lá, mái thấp, nền đất lầy lội. Hàng thịt có quầy nhưng không có thịt, chỉ có một cái thớt gỗ và mấy con ruồi.
Đông nhất là hàng rau.
Rau muống, mồng tơi, rau dền, rau ngót. Mấy quả bí đao, mấy mớ cà pháo. Rau thơm thì có một góc riêng: mùi, thì là, hành hoa, tía tô, kinh giới, buộc thành những mớ nhỏ chỉ bằng ba ngón tay chụm lại.
Ngân dừng trước một chị bán rau thơm.
"Chị ơi, mớ mùi này bao nhiêu ạ?"
Chị bán rau nói giá. Rẻ. Rẻ đến mức Ngân phải hỏi lại một lần nữa cho chắc. Cô nhẩm trong đầu: muốn đổi ra được ba mươi đồng trả nợ Hợp tác xã thì phải bán bao nhiêu mớ mùi như thế này. Con số lớn đến mức cô không nhẩm tiếp.
Rau thơm rẻ vì ai cũng trồng được. Một chậu trên ban công, một khoảnh đất sau nhà. Bà Lụa trồng. Thím Hằng phòng số tám cũng trồng mấy khóm hành trong cái hộp sắt.
Cô đi tiếp vào sâu trong chợ.
Ở cuối dãy, chỗ mái lều thấp nhất, có mấy người đàn bà ngồi cạnh những cái thúng phủ mẹt. Không rao. Không bày. Ai đi qua mà dừng lại nhìn, họ mới hé mẹt ra một chút.
Gạo.
Ngân đứng xa xa, nghe một người hỏi giá. Câu trả lời khiến cô sững người. Gạo ở đây đắt gấp mấy lần gạo cửa hàng lương thực bán theo sổ. Thế mà vẫn có người mua. Một bà xách cái túi vải, mua hai bơ, trả tiền xong là nhét vội túi gạo vào giữa mớ rau muống, đi ra phía cổng chợ, không ngoảnh lại.
Mười hai cân gạo hôm thứ Bảy, đến giờ đã vơi đi mấy bữa. Còn hơn mười ngày nữa mới sang tháng Tám. Nếu hết trước ngày lĩnh, thì là đây. Là những cái thúng phủ mẹt này.
Cô quay đi.
Ở gần cổng chợ, một bà cụ trải tấm bao tải xuống đất, bày mấy bó lá khô: lá vối, ngải cứu phơi, chè vằng, một túm cỏ mực. Trước mặt bà có hai người đứng hỏi.
"Bà ơi, lá này đun nước uống mát gan phải không?"
"Chè vằng đấy. Đàn bà đẻ uống cho lợi sữa. Uống mát."
Người kia mua một bó. Rẻ, rẻ hơn cả mớ rau mùi. Ngân đứng nhìn bà cụ gói lá bằng giấy báo, lòng nghĩ đến những ngăn kéo gỗ ở quầy thuốc kiếp trước. Ở đấy, chè vằng, ngải cứu được đóng túi lọc, in nhãn mác, bán đắt gấp chục lần lá tươi. Ở đây, chúng chỉ là lá.
Nhưng lá ấy vẫn có ích. Người ta vẫn tìm đến mua.
Tiếng hô vang lên từ đầu chợ.
"Quản lý thị trường! Quản lý đến!"
Chỉ trong một cái chớp mắt, chợ thay hình đổi dạng. Những cái thúng phủ mẹt ở cuối dãy biến mất như chưa từng có, người ta nhấc thúng lên hông, lẩn vào sau dãy lều, chạy ra phía bờ sông. Bà cụ bán lá cuộn tấm bao tải lại trong hai động tác. Mấy người bán rau ngồi lấn ra lối đi vội vã kéo rổ vào trong.
Ba người đàn ông đeo băng đỏ trên tay áo đi vào từ cổng chính. Một người cầm cuốn sổ. Hai người kia đi hai bên, mắt nhìn khắp lượt.
Họ dừng lại trước một bà bán rau.
Bà đã già, lưng còng, ngồi ngay ngoài cổng chợ, chỗ không có lều, không có mái, chỉ có một đôi quang gánh và hai cái thúng đầy rau muống, rau lang. Bà ngồi đấy có lẽ vì trong chợ không còn chỗ, hoặc vì không có tiền vé chợ. Bà không chạy. Có thể bà không nghe thấy. Có thể bà già quá, chạy không được.
"Bà ngồi đây có vé không?"
Bà cụ ngẩng lên, chưa hiểu.
"Ngồi lấn đường, không vé, không đăng ký. Thu."
Một người cúi xuống nhấc cả đôi quang gánh lên.
"Các anh ơi..." Bà cụ níu lấy đầu đòn gánh. "Rau nhà tôi trồng, các anh ơi. Nhà tôi trồng ở bờ ao, tôi mang ra bán lấy tiền mua dầu. Tôi có buôn bán gì đâu..."
"Có gì thì lên phòng mà trình bày."
Người kia gỡ tay bà ra, không mạnh, nhưng dứt khoát. Đôi gánh rau được xách đi, hai cái thúng đung đưa, mấy ngọn rau muống rơi xuống bùn. Bà cụ ngồi bệt xuống đất, hai tay để trên đầu gối, không khóc, chỉ nhìn theo.
Không ai đến đỡ bà dậy. Chợ vẫn ồn, nhưng tiếng ồn tránh xa chỗ bà ngồi, như có một vòng tròn vô hình.
Ngân đứng cách đấy mấy bước. Cô thấy hai bàn tay mình lạnh.
Mấy hôm nay, nằm trong bóng tối, cô đã nghĩ đến chuyện bán hàng theo cách của kiếp trước. Trồng rau sạch, bán tận nhà. Nhận đặt trước. Có khách quen. Mở rộng dần. Những ý nghĩ ấy trơn tru như một tờ kế hoạch in sẵn.
Bây giờ cô nhìn đôi quang gánh bị xách đi, nhìn bà cụ ngồi giữa bùn, và hiểu rằng tờ kế hoạch ấy không chỉ vô dụng. Nó nguy hiểm. Ở đây có những luật cô không biết. Có những chữ như "lấn đường", "không đăng ký", "buôn bán", mà cô chưa biết ranh giới nằm ở đâu. Một cô bé mười lăm tuổi ngày nào cũng mang rau tươi ra chợ, rau tốt bất thường, nhiều bất thường, không có ruộng, không có vườn, thì người ta sẽ hỏi. Hỏi rau ở đâu ra. Hỏi nhà có mấy khẩu. Hỏi bố làm gì.
Mà bố cô thì đang nằm liệt, và có người đang chờ sẵn để nói rằng cái nhà này không giữ nổi suất biên chế.
Cô bước lại, nhặt mấy ngọn rau muống còn sạch dưới bùn, đặt vào lòng bà cụ. Bà cụ nhìn cô, không nói gì.
Hiệu thuốc quốc doanh của thị xã nằm trên phố chính, cạnh bưu điện. Biển gỗ sơn trắng, chữ đỏ. Cửa kính ô vuông, mấy ô đã vỡ, dán giấy bìa thay.
Ngân bước vào, và một thoáng, cô tưởng mình vừa trở về.
Cũng mùi cồn, mùi long não, mùi giấy gói thuốc. Cũng những dãy tủ gỗ cao tận trần, những ngăn kéo nhỏ có núm đồng. Cũng một cái quầy dài, mặt kính, bên dưới bày thuốc.
Nhưng tủ kính gần như trống không.
Một lọ cồn. Mấy cuộn bông. Một hộp thuốc đỏ. Mấy vỉ thuốc gì đó bọc giấy bóng mờ, không đọc được chữ. Hàng ngăn kéo phía sau dán nhãn đánh máy, nhưng khi cô dược tá kéo một ngăn ra cho bà khách đứng trước, Ngân nhìn thấy đáy ngăn chỉ còn vài viên lăn lóc.
Hàng người chờ không dài, nhưng ai cũng cầm một tờ đơn thuốc.
"Hết," cô dược tá nói với người đầu tiên. "Tuần sau hỏi lại."
"Hết," cô nói với người thứ hai. "Không biết bao giờ có. Tỉnh chưa cấp."
Người thứ ba là một chị bế con nhỏ, đứa bé ho từng tràng khàn khàn. Cô dược tá đọc đơn rồi đưa trả.
"Siro ho hết từ tháng trước rồi chị ạ. Chị sang bệnh viện, ra phòng đông y mà xin thang thuốc nam. Bên ấy họ cho lá về sắc, rẻ lắm, lại hay."
Đến lượt Ngân. Cô đọc tên mấy thứ thuốc bổ bố vẫn uống, tên mà cô bé Cá đã nghe mẹ nhắc đi nhắc lại mỗi lần đi mua.
Cô dược tá lắc đầu từng thứ một. "Có một thứ, còn ít. Mua mấy ngày thôi. Mà phải có đơn mới."
Ngân không có đơn mới. Cô cảm ơn rồi đi ra.
Đứng trên bậc thềm hiệu thuốc, cô nghĩ đến hộp thuốc của bố. Sáng nay, lúc rót cháo, cô đã nhìn. Còn hai ngày. ---
Bệnh viện thị xã ở cuối phố chính, chỉ cách hiệu thuốc mấy trăm mét. Ngân không định đến. Nhưng chân cô cứ đi.
Cổng bệnh viện là hai trụ gạch quét vôi, cánh cổng sắt mở một nửa. Sân rộng, trồng mấy hàng phi lao. Mấy dãy nhà một tầng lợp ngói, tường ố vàng, hành lang lát gạch đỏ. Người nhà bệnh nhân ngồi la liệt dưới gốc cây, bên cạnh những cái làn, cái cặp lồng, cái chiếu cuộn.
Nhưng ở đây còn một mùi khác.
Ngân đứng lại, hít vào. Đắng, ngai ngái, có chút ngọt của cam thảo, chút cay của gừng nướng, chút hắc của một thứ rễ phơi khô. Mùi thuốc sắc. Mùi ấy đưa đến từ dãy nhà thấp nhất, nằm khuất sau hàng phi lao cuối sân.
Cô đi về phía ấy.
Trước hiên dãy nhà có một hàng bếp than nhỏ, trên mỗi bếp đặt một cái ấm đất. Hơi nước bốc lên từ vòi ấm, mờ mờ trong nắng. Một chị hộ lý đang ngồi quạt bếp, mồ hôi chảy ròng ròng. Mấy người ngồi chờ trên chiếc ghế băng dài, có người cầm gói lá tươi bọc giấy báo.
Ngân ngẩng lên.
Trên khung cửa ra vào, một tấm biển gỗ đã bạc màu mưa nắng, chữ sơn đỏ, nét chữ ngay ngắn:
*PHÒNG CHẨN TRỊ Y HỌC DÂN TỘC.*