Ăn cơm tối xong, Ngân rửa bát rồi sang gõ cửa nhà bà Lụa.
Cửa vẫn mở, nhưng ở khu tập thể này, gõ cửa là phép lịch sự cuối cùng còn sót lại. Bà Lụa đang ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp, kính trễ xuống mũi, khâu lại cái cổ áo sờn. Trên tường phía sau bà là tấm bằng Tổ quốc ghi công đóng khung kính, bên cạnh là ảnh một người đàn ông trẻ mặc quân phục, đội mũ cối, cười rất hiền. Dưới khung ảnh có một bát hương nhỏ và một đĩa ba quả chuối xanh.
"Cá đấy à. Vào đây."
Ngân vào, ngồi xuống mép chiếu. Phòng bà Lụa ít đồ hơn phòng nhà cô, nhưng gọn và sạch đến mức không có một hạt bụi trên mặt tủ. Mùi dầu gió, mùi trầu, mùi đất ẩm từ ban công đưa vào.
"Bà ơi, cháu xin bà ít hạt rau được không ạ? Hạt mùi với hạt tía tô."
Bà Lụa ngẩng lên, nhìn cô qua cặp kính. "Hạt rau? Mày xin làm gì?"
"Cháu muốn trồng ạ."
"Trồng ở đâu?"
Câu hỏi rất bình thường. Nhưng Ngân thấy cổ mình khô lại.
"Cháu trồng chậu ngoài ban công ạ. Ban công nhà cháu bỏ không, chỉ để giẻ với than. Cháu nghĩ trồng ít rau, nấu cháo cho bố cũng đỡ phải mua."
Bà Lụa đặt cái áo xuống. Bà nhìn cô thêm một lúc, cái nhìn giống hệt hôm qua, như đang cố nhận ra một người quen trong một khuôn mặt cũ.
"Ừ. Thế thì được."
Bà đứng dậy, mở ngăn kéo tủ. Bên trong là cả một xấp gói giấy nhỏ, gấp vuông vức, mỗi gói ghi một chữ bằng bút chì: *mùi, thì là, tía tô, hành, ớt, kinh giới*. Giấy là giấy báo cũ, chữ in mờ, có gói còn thấy nửa cái tít về vụ chiêm.
Bà lấy ra gói mùi và gói tía tô, mở ra, trút một nửa sang hai mẩu báo khác, gấp lại cẩn thận. Rồi bà ngần ngừ, mở thêm gói kinh giới, véo ra một nhúm.
"Cầm thêm ít kinh giới. Bố mày nằm thế, trúng gió trúng máy lúc nào không biết. Cháo nấu với tí kinh giới, tía tô, ăn cho ra mồ hôi."
"Cháu cảm ơn bà."
"Đừng vội cảm ơn." Bà Lụa đưa ba gói giấy cho cô. "Hạt mùi phải lấy chai lăn cho nó tách đôi ra, rồi ngâm nước ấm một đêm. Tía tô thì rắc lên mặt đất, phủ mỏng thôi, phủ dày nó không lên được. Mà gieo chậu thì cũng phải tuần sau, tuần sau nữa mới ăn được. Sốt ruột thì đừng trồng."
"Cháu không sốt ruột đâu ạ."
Bà Lụa khịt mũi, như không tin lắm. Bà ra ban công, nhấc một cái chậu sành sứt miệng đang úp sấp ở góc, dốc ngược lên đổ hết đám lá khô.
"Cầm cái chậu này về mà trồng. Đất thì xuống gốc cây bàng dưới sân mà xúc, đừng xúc chỗ bọn trẻ con nó đái."
Ngân đỡ lấy cái chậu. Nó nặng hơn cô tưởng.
"Bà ơi, cháu còn nợ bà năm đồng. Mẹ cháu bảo..."
"Mẹ mày bảo gì thì để mẹ mày nói với tao." Bà Lụa xua tay, ngồi xuống ghế, cầm lại cái áo. "Trẻ con nhắc nợ nghe nó buồn lắm. Về đi."
Ngân làm đúng như bà Lụa dặn. Cô xuống gốc bàng xúc nửa chậu đất, mang lên ban công. Cô lấy cái chai thủy tinh lăn hạt mùi trên mặt bàn, nghe lạo xạo, cho đến khi từng hạt tròn tách thành hai nửa nhỏ như vỏ trấu. Cô chia hạt làm hai phần: một phần ít, một phần nhiều.
Phần ít, cô gieo vào chậu sành ngoài ban công, tưới nhẹ bằng nước máy trong cái xô để góc phòng. Đây là cái chậu mà ai cũng có thể nhìn thấy. Nếu bà Lụa có sang hỏi, nếu mẹ có hỏi, thì rau của cô ở đây.
Phần nhiều, cô ngâm vào một cái bát nước ấm, đặt trên nóc tủ.
Sơn đứng xem từ đầu đến cuối, hỏi luôn mồm.
"Bao giờ thì nó mọc hả chị?"
"Lâu. Bà Lụa bảo tuần sau."
"Lâu thế à." Thằng bé ngồi xổm, chọc ngón tay vào mặt đất ẩm. "Thế em tưới cho nó nhé. Ngày nào em cũng tưới."
"Tưới ít thôi. Tưới nhiều nó thối hạt."
Đêm ấy, Ngân đợi đến khi cả nhà ngủ say.
Mẹ ngủ trước tiên. Chủ nhật mà còn đi một vòng từ Hợp tác xã sang nhà mấy người quen, về đến nhà là ngả lưng, áo sơ mi chưa kịp thay. Ngân không hỏi chuyện tạm ứng. Nhìn mặt mẹ lúc về là biết.
Sơn ngủ sau, quả bóng lá chuối ôm trong lòng.
Ngân nằm nghe đồng hồ Poljot của bố tích tắc trên tường. Khi kim chỉ mười giờ rưỡi, cô ngồi dậy.
Cô đã nghĩ kỹ chuyện này từ chiều. Nhà vệ sinh thì không được nữa. Trong phòng thì quá liều, chỉ một cái trở mình là xong. Còn lại cái ban công. Cửa ban công là cánh cửa gỗ có chốt, khép lại thì từ trong phòng không nhìn thấy gì. Ban đêm không ai ra ban công. Nếu có ai dậy, mở cửa ra, thì cũng chỉ thấy một khoảng tối với mấy cái giẻ phơi.
Không an toàn. Nhưng là chỗ ít nguy hiểm nhất.
Cô chắt nước trong bát, gói chỗ hạt mùi đã ngâm vào mảnh giấy báo, cùng với gói tía tô và gói kinh giới. Cô múc đầy cái ca nhôm bằng nước máy trong xô. Tay phải cầm ca. Tay trái nắm ba gói hạt, nắm chặt đến mức giấy nhàu cả lại.
Ra ban công. Khép cửa. Ngồi xổm xuống góc tối.
Ánh sáng xanh như lá non.
Mảnh vườn vẫn như cũ. Ánh sáng vẫn dịu, đều, không biết từ đâu tới. Cái giếng đá ong ở góc. Gian bếp lá cọ.
Việc đầu tiên Ngân làm là đi đến bên giếng nhìn xuống.
Đáy giếng vẫn khô. Mấy viên sỏi trắng nằm trên lớp cát nâu, đúng như lúc cô bỏ đi sáng nay. Gần một ngày trôi qua mà không thêm được một giọt.
Ngân đứng nhìn, lòng hơi chùng xuống. Cô không biết nó có đầy lại không. Nếu không, thì ba gáo nước sáng nay là ba gáo đầu tiên và cuối cùng.
Nhưng cô không có cách nào bắt nó đầy. Cô chỉ có thể làm việc mình định làm. Cô đã quyết từ chiều: nước giếng, nếu còn, là của bố. Còn cây thì tưới bằng nước máy.
Cũng là để thử. Nếu cây chỉ lớn nhanh khi tưới nước giếng thì cái quý là nước. Nếu cây vẫn lớn nhanh khi tưới nước máy thì cái quý là đất.
Cô chọn một khoảnh ngay cạnh gian bếp, chỗ đất bằng nhất. Không có cuốc, không có xẻng. Cô tìm thấy trong gian bếp một que cời bằng tre, đầu đã cháy đen. Cô dùng nó vạch ba luống ngắn, mỗi luống dài chừng hai sải tay.
Đất mềm đến lạ. Que tre lướt qua như rạch trên tro. Bên dưới lớp mặt là đất đen hơn, ẩm hơn, thơm mùi rễ cỏ.
Luống thứ nhất, cô rải hạt mùi, lấp một lớp đất mỏng bằng đầu ngón tay. Luống thứ hai, hạt tía tô, nhỏ li ti như hạt vừng, cô chỉ rắc lên rồi lấy lòng bàn tay vỗ nhẹ, đúng như bà Lụa dặn. Luống thứ ba ngắn nhất, cho nhúm kinh giới.
Rồi cô tưới. Một ca nước máy chia ba, từng chút một, như cách bà Lụa tưới chậu chiều nay. Nước máy có mùi clo, hơi tanh. Đất uống hết, không đọng lại vũng nào.
Ngân ngồi trên chõng tre, nhìn ba luống đất vừa gieo. Cuốn sổ giấy dó vẫn nằm cạnh cô, trang đầu vẫn chỉ có một dòng chữ. Cô lật thử những trang sau. Trắng. Cô lật đến tận trang cuối. Vẫn trắng.
Cô ngồi thêm một lúc rồi đứng dậy. Cầm cái ca rỗng và ba mẩu giấy báo trong tay. Nghĩ đến cái ban công tối.
Lúc ra, cô thấy đồng hồ trên tường mới chỉ mười một giờ kém năm.
Bốn giờ rưỡi sáng thứ Hai, Ngân ra ban công lần nữa, lần này ôm theo cái xô sắt tây.
Cô vào vườn, việc đầu tiên là chạy đến bên giếng.
Nước đầy. Mặt nước phẳng lặng, trong vắt, cao đúng đến vệt ướt hôm qua trên thành đá, như chưa từng có ai múc. Lúc mười một giờ đêm nó còn khô. Đến bốn giờ rưỡi sáng nó đã đầy. Ở giữa khoảng ấy là nửa đêm.
Ngân thở ra, rồi mới quay sang luống đất cạnh gian bếp. Và cô đứng sững.
Trên luống thứ nhất, đất đã nứt thành từng đường nhỏ. Từ những đường nứt ấy, những mầm mùi nhú lên, trắng muốt ở thân, cong gập như lưỡi câu, đầu còn đội nguyên vỏ hạt. Có cây đã duỗi được ra, hai lá mầm dài, hẹp, xanh nhạt, xòe ra như hai cánh tay.
Luống tía tô đất mới nứt lấm tấm, đây đó một chấm xanh nhỏ hơn đầu kim. Luống kinh giới chưa có gì.
Ngân quỳ xuống, cúi sát mặt đất. Cô đưa ngón tay chạm vào một mầm mùi. Nó mát và mềm, thật như mọi cây mầm cô từng thấy.
Hạt mùi, kể cả lăn tách đôi, ngâm kỹ, gặp trời tháng Bảy, nhanh nhất cũng năm, sáu ngày mới lên. Ở đây, chưa đến sáu tiếng.
Cô không có thước, không có đồng hồ trong này. Cô chỉ có con mắt của người đã nhìn hàng nghìn chậu cây ở kiếp trước, những chậu bạc hà, hương nhu, sả, lá lốt bà chủ quầy thuốc cũ trồng sau nhà. Ước chừng là nhanh gấp mười, có khi hơn. Muốn biết đúng phải theo dõi thêm mấy hôm.
Và tưới nước máy. Không một giọt nước giếng.
Vậy cái quý là đất.
Cô múc ba gáo nước giếng vào xô, đứng ôm xô bằng cả hai tay, nhìn ba luống đất thêm một lúc nữa rồi mới ra.
Chậu sành ngoài ban công vẫn y nguyên. Mặt đất phẳng, ẩm, không một vết nứt.
Bố ăn được gần hết bát cháo, giống hôm qua. Mẹ không nói gì, chỉ đứng lên đi rửa bát, lưng quay về phía mọi người. Lúc mẹ quay lại, mắt mẹ đỏ, nhưng miệng thì cười.
Mẹ đi ca chiều. Trước khi đi, mẹ dặn:
"Mai cửa hàng mậu dịch đầu phố có đậu phụ. Con dậy sớm ra xếp hàng hộ mẹ. Đặt viên gạch từ tối thì chưa chắc đã giữ được chỗ đâu, dạo này người ta đá gạch đi hết."
"Vâng."
Mẹ đếm mấy hào lẻ trong túi áo, để lên bàn, rồi lại cầm bớt lên một hào, nghĩ ngợi, rồi đặt xuống.
"Mua đủ cho bố mày với thằng Sơn thôi. Mẹ với con ăn rau."
Khi mẹ đi rồi, Ngân mở hộp thuốc của bố. Còn đủ ba ngày. Cô đóng hộp lại.
Buổi chiều, lúc Sơn ra sân đá bóng, Ngân lấy cuốn vở học trò cũ ra.
Mấy trang đầu là những con số cô tính hôm thứ Bảy. Mười một đồng hai hào. Mười hai cân gạo. Nợ ba mươi đồng. Nợ năm đồng. Cô không nhìn lâu vào những trang ấy.
Cô lật ngược cuốn vở, mở từ trang cuối, nơi cô bé Cá ngày trước dùng để chép lời bài hát. Có một bài về đường lên Tây Bắc, chữ tròn, nắn nót, chữ "đ" còn viết ngược. Cô sang trang trống kế tiếp.
Cô cầm bút chì. Dừng lại một lúc lâu. Rồi viết lên đầu trang, gạch chân hai lần:
*Luật của vườn.*
Ở kiếp trước, mỗi khi có một loại thuốc mới về quầy, cô đều đọc tờ hướng dẫn từ đầu đến cuối, rồi chép lại những gì quan trọng nhất ra một mảnh giấy, dán vào ngăn kéo. Liều dùng. Chống chỉ định. Tương tác. Cô không tin vào trí nhớ. Trí nhớ của người mệt là thứ dễ phản bội nhất.
Cô viết:
*1. Giếng cho ba gáo một ngày. Gáo thứ tư là cạn. Nước đầy lại trong khoảng từ mười một giờ đêm đến bốn giờ rưỡi sáng. Có lẽ là nửa đêm (phải thử lại).*
*2. Cây mọc nhanh gấp mười, có khi hơn. Tưới nước máy vẫn mọc. Cái quý là đất.*
*3. Chỉ mang ra được thứ cầm trên tay. Để xuống là mất (không mất, nằm lại trong vườn).*
Cô đọc lại. Rồi thêm một dòng nhỏ phía dưới, không đánh số:
*Vào khi không ai nhìn. Ra trước khi có người tìm.*
Cô nhìn mấy dòng chữ ấy rất lâu. Chữ của cô bé Cá tròn và to. Chữ của cô thì nhỏ, nghiêng, quen ghi tắt. Bây giờ chữ trên trang vở nằm lưng chừng giữa hai người, chẳng giống hẳn ai.
Cô lật cuốn vở về lại trang đầu. Mười một đồng hai hào.
Rau sẽ lên. Một sào đất, mọc nhanh gấp mười. Nếu cô gieo kín cả sào, mỗi tuần có thể có rau như người ta có trong hơn hai tháng.
Nhưng rồi sao nữa?
Cô biết giá một hộp thuốc bổ gan năm hai nghìn không trăm hai mươi mấy. Cô biết giá thuê một gian ki-ốt ở đầu chợ. Cô biết người ta bán rau sạch qua điện thoại thế nào. Những thứ ấy ở đây chẳng có nghĩa gì.
Cô không biết một mớ rau mùi ở chợ Văn Hà bây giờ đáng mấy xu. Không biết một cân gạo chợ ngoài đắt hơn gạo sổ bao nhiêu lần. Không biết người ta có được bán rau tự trồng hay không, bán ở đâu, bán cho ai. Không biết hiệu thuốc quốc doanh trong thị xã có gì và thiếu gì.
Cô bé Cá thì biết một ít. Nhưng cô bé Cá mười lăm tuổi chỉ biết những gì mẹ sai đi mua, chưa bao giờ phải biết giá của mọi thứ.
Ngân gập cuốn vở lại, nhét xuống dưới cái gối của mình.
Mai cô sẽ đi xếp hàng đậu phụ. Rồi cô sẽ đi tiếp. Ra chợ. Ra hiệu thuốc. Đi khắp cái thị xã này, mở to mắt mà nhìn, mở to tai mà nghe.
Trước khi bán được thứ gì, cô cần biết thế giới ngoài kia giá bao nhiêu.