Châu Vạn Quốc, vùng Đông Nam, nước Thương Lan.
Quận Giang Lâm, huyện Hà Khẩu, trấn Liễu Độ.
Tà dương như máu nhuộm đỏ nửa dòng Trường Hà. Mặt sông rộng ba trăm trượng lặng lẽ trôi về phương nam, và khi mặt trời vừa chạm ngọn tre bên kia bờ thì trên mặt nước bắt đầu bốc lên từng tầng sương mỏng màu hồng nhạt. Phàm nhân nhìn vào chỉ thấy sương khói bồng bềnh rồi tan vào gió chiều, còn người tu luyện lại thấy được linh khí thiên địa đang chậm rãi trào dâng, thứ khí tức nuôi dưỡng ngọn lửa trong hồn mỗi người.
Hôm nay là ngày mười hai tháng chín, ngày Thủy Tế.
Trấn Liễu Độ có một tục lệ đã truyền mấy trăm năm, cứ đến ngày này thì cả trấn cùng tế những người đã táng thân dưới Trường Hà. Lúc hoàng hôn, nhà nhà mang hoa đăng ra bến rồi thuê đò chở ra giữa dòng thả xuống nước. Người ta tin rằng đèn trôi theo sông sẽ dẫn đường cho vong hồn người chết đuối về chốn của họ, để họ không còn quẩn quanh dưới nước mà kéo chân người sống.
Vì thế mà hôm nay bến đò đông nghịt người.
Dưới gốc đa cổ thụ cạnh bến có một bà lão tóc trắng như cước ngồi trên chõng tre, bên cạnh là gánh chè đỗ đen đã nguội và một rổ khoai nướng. Người trong trấn gọi bà là Tôn bà bà. Không ai biết bà bao nhiêu tuổi, chỉ biết từ đời ông nội của đám trẻ bây giờ, bà đã ngồi dưới gốc đa này kể chuyện.
Lúc này đã có bảy tám đứa trẻ vây kín quanh chõng tre.
"Tôn bà bà, kể chuyện đèn tang đi!"
Đứa nhao lên trước tiên là Tiểu Hổ, một tiểu tử tám tuổi mũi lúc nào cũng thò lò nhưng gan thì lớn nhất bọn.
"Chuyện ấy năm ngoái bà kể rồi."
"Năm nay kể lại đi bà, Tiểu Nha chưa được nghe!"
Tiểu Nha mới sáu tuổi, nép sau lưng anh trai mà gật đầu lia lịa.
Tôn bà bà liếc về phía bến sông một cái rồi khẽ thở dài, cầm chiếc quạt nan lên phe phẩy.
"Được, nhưng đêm nay đứa nào gặp ác mộng thì đừng có trách bà."
Bọn trẻ khúc khích cười một lúc rồi im phăng phắc.
"Thượng cổ niên gian, thiên địa còn chưa có Đăng Miếu nên đêm nào cũng đen như mực," Tôn bà bà trầm giọng kể, chậm rãi như tiếng nước vỗ bờ. "Người sống không thấy đường mà đi, còn hồn phách người chết thì không biết đường mà về. Vong hồn cứ quẩn quanh bờ sông, gốc cây, bụi tre, lâu ngày hóa thành thủy quỷ, thành âm hồn, đêm đêm kéo người sống xuống nước."
Tiểu Nha rúc sâu vào lưng anh.
"Rồi một ngày kia Đăng Mẫu giáng thế. Người khoác áo vàng, tay nâng một ngọn đèn đồng, đi đến đâu thì thắp đèn đến đó. Ánh đèn của Người vừa sáng vừa ấm, soi tới đâu thì tà ma tán loạn tới đó. Người dựng Đăng Miếu khắp thiên hạ để đèn cháy mãi không tắt, lại truyền xuống Lễ Điểm Đăng cho trẻ con mười hai tuổi đặt tay lên đèn. Đứa nào có duyên sẽ được Người mồi cho một ngọn lửa trong hồn, từ đó khỏe hơn phàm nhân mà sống cũng lâu hơn phàm nhân. Những người ấy gọi là người tu luyện."
"Giống Đại Sơn ca!" Tiểu Hổ reo lên.
"Phải, giống tiểu tử nhà họ Hồ đấy." Tôn bà bà gật gù. "Thế còn người chết thì sao? Người chết đã có Đăng Miếu dẫn đường. Tro cốt người tu luyện được đổ vào Hố Tro sau miếu để Đăng Mẫu thu về, còn phàm nhân thì có hoa đăng như đêm nay và có đèn dẫn hồn trong tang lễ. Từ đó về sau, hồn ai cũng có đường về, chẳng còn phải lang thang nữa."
Bà ngừng lại nhấp một ngụm chè, rồi đôi mắt đục ngầu bỗng nheo lại.
"Đèn của Đăng Mẫu thắp khắp thiên hạ, từ bảy tám nước cho đến cả trăm nước, nước nào cũng thắp. Chỉ có một nước không chịu."
"Nước nào hả bà?"
"Nước Dạ, ở tận phương bắc xa xôi, chỗ giáp với dãy núi cao ngất bây giờ. Quân vương nước ấy được người đời gọi là Hắc Đăng Vương."
Bọn trẻ nín thở.
"Hắc Đăng Vương cũng có lửa," Tôn bà bà hạ giọng gần như thì thầm, "nhưng lửa của hắn chẳng giống lửa của chúng ta chút nào. Lửa ấy màu đen, không sáng mà cũng không ấm, gió thổi không lay, nước dội không tắt. Đáng sợ hơn cả là nó không đốt..."
Bà dừng lại một nhịp rồi mới nói tiếp:
"Mà nó ăn."
"Ăn... ăn cái gì ạ?"
"Nó ăn lửa của người khác. Người tu luyện nào đứng gần hắn lâu thì ngọn lửa trong hồn cứ lụi dần đi, đến khi tắt hẳn thì biến thành phàm nhân. Ăn vậy vẫn chưa đủ, nó còn ăn cả hồn người chết. Nơi nào có tang lễ thì đêm ấy ắt có một bóng người áo đen tay cầm đèn đen đứng ngoài ngõ, không bước vào, cũng không nói một lời nào. Sáng hôm sau bóng người ấy đã đi mất, và hồn người chết cũng đi theo nó, vĩnh viễn không về với Đăng Mẫu nữa."
Một trận gió sông thổi qua làm lá đa xào xạc, Tiểu Nha òa lên khóc. Tiểu Hổ mặc kệ em, mắt sáng rực: "Sau đó thì sao hả bà?"
"Sau đó Đăng Mẫu nổi giận, cùng Hắc Đăng Vương đại chiến bảy ngày bảy đêm, thiên địa tối đen suốt ba ngày không thấy mặt trời. Cuối cùng bảy nước trong thiên hạ hợp binh kéo lên phương bắc, phóng hỏa thiêu rụi nước Dạ. Lửa cháy ba ngày ba đêm, đến đá núi cũng nứt toác ra."
"Thế là hết Hắc Đăng Vương rồi!"
"Hết hắn nhưng chưa hết lửa của hắn." Tôn bà bà lắc đầu. "Lửa đen thì không thiêu hết được. Nó tan thành tro rồi theo gió bay đi khắp thiên hạ. Lâu lắm mới có một lần, một hạt tro ấy rơi vào hồn một đứa trẻ sơ sinh. Đứa trẻ lớn lên, đến năm mười hai tuổi làm Lễ Điểm Đăng mà đặt tay lên đèn đồng, thì ngọn lửa hiện trên tay nó chẳng đỏ, chẳng lam, cũng chẳng vàng..."
Bà ngừng lại thật lâu.
"Mà là đen."
"Đèn tang!" Mấy đứa trẻ đồng thanh kêu lên.
"Phải, đèn tang."
Tiểu Nha vẫn còn thút thít: "Sao lại gọi là đèn tang hả bà?"
"Vì trong tang lễ người ta thắp đèn để dẫn hồn người chết về với Đăng Mẫu, gọi là đèn dẫn hồn. Còn lửa đen là đèn của Hắc Đăng Vương, thứ đèn đến để cướp hồn. Nó cũng xuất hiện ở tang lễ, nhưng là đến để đoạt chứ không phải để đưa đường, cho nên tiền nhân mới gọi nó là đèn tang, nghĩa là ngọn đèn mang tang tóc đến nhà người khác."
Tiểu Hổ gãi đầu: "Nhưng một đứa trẻ con thì làm gì được ai?"
"Hỏi hay lắm." Tôn bà bà giơ ba ngón tay gầy guộc lên. "Cổ nhân để lại lời răn rằng kẻ mang đèn tang có ba điềm dữ.
Điềm thứ nhất là đèn đuốc quanh nó tất sẽ lay động, tất sẽ muốn tắt, đến cả đèn thờ trong Đăng Miếu cũng sợ nó.
Điềm thứ hai là nó ăn lửa của người khác, người có lửa mà ở gần nó lâu ngày thì lửa của mình sẽ âm thầm suy yếu.
Điềm thứ ba là nhà nào nuôi nó thì thân nhân tất chết sớm, bởi nó mang đèn tang trong người nên sẽ gọi tang về nhà."
Bọn trẻ im thin thít.
"Vậy... vậy thì phải giết nó đi!" Tiểu Hổ buột miệng.
"Ai mà dám giết." Tôn bà bà lắc đầu. "Giết nó thì hạt tro đen trong hồn nó lại bay ra, rơi vào một đứa trẻ khác. Cổ nhân dạy rằng chỉ có một cách là tránh xa nó ra, đừng để nó đến gần đèn miếu và cũng đừng để nó học tu luyện. Cứ để ngọn lửa của nó leo lét như thế, vĩnh viễn không lớn lên được, thì nó chẳng hại được ai."
Tiểu Nha ngẩng khuôn mặt lấm lem nước mắt lên hỏi:
"Thế bây giờ còn ai có lửa đen không bà?"
Tôn bà bà khựng lại, chiếc quạt nan trong tay cũng ngừng phe phẩy. Bà không trả lời, nhưng đám trẻ như bị một sợi dây vô hình kéo đầu, đồng loạt quay về phía bến sông.
...
Tạ Tri Hà đứng ở đuôi đò, hai tay giữ mái chèo.
Hắn năm nay mười sáu tuổi, thân hình gầy nhưng rắn chắc, làn da rám nắng của người quanh năm sống trên sông nước. Gương mặt hắn thanh tú với hàng lông mày rậm và đôi mắt đen sâu như đáy giếng, lúc nào nhìn người khác cũng bình thản như mặt nước không gợn sóng.
Câu chuyện kia hắn đã thuộc lòng từ lâu. Năm nào Tôn bà bà cũng kể, năm nào bọn trẻ cũng hỏi đúng câu cuối ấy, và năm nào cũng vậy, đến đúng khoảnh khắc ấy là mấy chục ánh mắt lại đồng loạt dừng trên người hắn.
Năm nay cũng không ngoại lệ. Tiểu Hổ trợn tròn mắt nhìn hắn, Tiểu Nha thì rúc hẳn vào lưng anh chỉ dám ló ra một con mắt, còn có đứa đã bật dậy chạy biến về nhà.
Tạ Tri Hà khẽ nghiêng mái chèo đẩy đò ra khỏi bến, giọng đều đều:
"Ai thả đèn thì lên đò."
Hàng người chờ đò trên bến khựng lại. Có người nhìn nhau, có người giả như không nghe thấy gì. Hai chiếc đò kia đã chật cứng, chỉ có đò của nhà họ Tạ là trống trơn. Mãi một lúc lâu mới có một nam tử từ phương xa tới bước lên, theo sau là hai bà lão, một đôi phu thê trẻ và một gã thương nhân béo tròn đang ôm khư khư bọc vải.
Đò rời bến được một quãng thì gã thương nhân hạ giọng nói với nam tử phương xa. Giọng đã hạ thấp nhưng cả đò vẫn nghe rõ mồn một.
"Huynh nghe chuyện bà già kia kể chưa? Chính là tên lái đò này đấy, đèn tang của trấn Liễu Độ."
Nam tử phương xa giật mình liếc về phía đuôi đò rồi lặng lẽ dịch người vào giữa khoang.
"Đèn tang thật sao?"
"Còn giả được à? Bốn năm trước nó làm Lễ Điểm Đăng, lửa trên tay đen như đáy nồi." Gã thương nhân tặc lưỡi. "Huynh thấy lão già nhà nó chưa? Thọt một chân đấy. Người ta đồn rằng..."
"Chân nghĩa phụ ta thọt chẳng liên quan gì đến ta."
Thanh âm bình thản từ đuôi đò truyền tới khiến gã thương nhân giật thót. Tạ Tri Hà vẫn đều tay chèo, mắt nhìn mặt nước như thể câu vừa rồi chỉ là chuyện thời tiết. Gã thương nhân đỏ bừng mặt quay đi.
Tạ Tri Hà thầm nghĩ, nếu hắn thật sự ăn được lửa người khác như trong truyện thì đã chẳng phải đứng đây chèo đò kiếm hai đồng một chuyến.
Hắn đã quen với chuyện này rồi. Tranh cãi thì người ta bảo đèn tang hung hãn, còn im lặng thì người ta bảo đèn tang biết thân biết phận, nên hắn chọn im lặng.
Khi đò ra đến giữa dòng, bốn phía đã có hàng trăm chiếc hoa đăng được thả xuống. Chúng chậm rãi trôi theo dòng nước và nối thành một dải sáng dài uốn lượn, tựa như một con hỏa long nằm phục trên mặt Trường Hà.
Khách trên đò lần lượt cúi người thả đèn, miệng lâm râm khấn vái.
Cách đó không xa có một chiếc xuồng nhỏ đang lặng lẽ trôi, trên xuồng là Lục quả phụ bán cá với thân hình gầy gò và tấm áo vá chằng chịt. Bà thả xuống nước một chiếc đèn hình hoa sen rồi cứ thế ngồi nhìn theo, không khấn cũng không khóc. Ba năm nay, mùa Thủy Tế nào bà cũng như vậy, kể từ khi đứa con gái bảy tuổi của bà chết đuối ngay dưới bến này.
Tạ Tri Hà nghiêng mái chèo đưa đò lách xa khỏi dải hoa đăng. Đó là thói quen của hắn suốt bốn năm nay, chưa từng để đò mình đến gần đèn của người khác, không phải vì tin lời Tôn bà bà mà vì không muốn người ta có cớ để nói.
Thế nhưng chèo được một đoạn, hắn bỗng quay đầu nhìn lại.
Hàng trăm ngọn nến trên mặt sông vẫn cháy đều đặn. Những chiếc đèn trôi qua sát mạn đò hắn, có chiếc cách chưa tới một sải tay, mà ngọn lửa bên trong vẫn đứng thẳng, không chao đi và cũng không tắt. Không một ngọn nào như thế cả.
Tạ Tri Hà nhìn chúng hồi lâu rồi quay đi, chèo ra xa thêm một chút.
...
Khi đò quay về bến thì trời đã tối hẳn. Gã thương nhân ném hai đồng xu xuống sàn đò thay vì đưa tận tay, Tạ Tri Hà cúi người nhặt lên lau vào vạt áo.
Người cuối cùng còn đợi trên bến là Tôn bà bà. Gánh chè đã dọn xong, quang gánh dựa vào gốc đa, đám trẻ thì về hết cả. Bà đứng chống gậy trên bậc đá, trên tay cầm một chiếc hoa đăng nhỏ cũ kỹ, giấy đã ngả vàng.
"Chở bà một chuyến," bà nói. "Bà thả cho lão nhân nhà bà."
Tạ Tri Hà gật đầu đỡ bà lên đò.
Đò lại ra giữa dòng. Dải hoa đăng lúc chiều đã trôi xa, chỉ còn lác đác vài chiếc lạc bầy. Tôn bà bà cúi người run run thả chiếc đèn của mình xuống, nhìn nó trôi đi nhỏ bé và chập chờn trên mặt nước.
"Chuyện bà kể lúc chiều chắc ngươi nghe cả rồi," bà bỗng lên tiếng, không quay đầu lại.
"Năm nào con cũng nghe."
"Ừ." Bà thở dài. "Bọn nhỏ cứ đòi mãi. Bà già rồi, chỉ còn mấy câu chuyện cũ để kể."
Tạ Tri Hà không đáp.
"Chuyện ấy là bà ngoại bà kể lại cho bà," Tôn bà bà chậm rãi nói tiếp. "Có điều bà ngoại bà kể khác đi một chỗ."
Tạ Tri Hà khẽ ngẩng đầu lên.
"Bà ấy nói cái bóng người áo đen cầm đèn đứng ngoài ngõ nhà có tang ấy," Tôn bà bà nheo mắt như đang cố nhìn vào một nơi rất xa, "chẳng phải đứng đó để cướp hồn đâu, mà là để..."
Bà ngừng lại rất lâu, rồi lắc đầu cười móm mém.
"Thôi, già rồi nên quên mất. Bà ngoại bà cũng lẩm cẩm lắm, nói câu trước quên câu sau."
Bà lục trong ngực áo lấy ra một củ khoai nướng bọc lá chuối, đặt vào tay hắn. Củ khoai vẫn còn ấm.
"Ăn đi, còn sót một củ bà để phần ngươi đấy."
Tạ Tri Hà nhìn củ khoai rồi nhìn bàn tay nhăn nheo của bà. Bàn tay ấy chạm vào tay hắn mà không hề rụt lại.
"Đa tạ bà bà."
"Chuyện cũ thôi," Tôn bà bà nói khẽ. "Đừng để trong lòng."
Đò cập bến. Tạ Tri Hà đỡ bà lên bậc đá rồi đứng nhìn theo bóng lưng còng còng ấy chậm rãi khuất dần trên con dốc dưới ánh trăng non. Sau đó hắn quay mũi đò về phía bờ bên kia, vừa chèo vừa bóc lá chuối cắn một miếng khoai. Khoai ngọt lịm.
Sương trên mặt sông đã dày thêm. Tạ Tri Hà thả chậm mái chèo, hít sâu một hơi rồi vận chuyển khẩu quyết dẫn khí mà Hồ Đại Sơn lén chép cho hắn từ lớp dự khoa trên huyện. Linh khí theo hơi thở tràn vào mát lạnh, mang theo hương nước, nhưng rồi lại lặng lẽ trôi qua thân thể hắn như nước chảy qua tấm lưới thủng, chẳng đọng lại chút nào.
Sâu trong hồn hắn, ngọn lửa đen vẫn chỉ nhỏ như hạt đậu, leo lét và lạnh lẽo, không chết mà cũng chẳng sống. Đúng như cổ nhân răn dạy, cứ để nó leo lét như vậy thì vĩnh viễn không lớn lên được, cũng chẳng hại được ai.
Khóe miệng Tạ Tri Hà nhếch lên một tia tự giễu. Hắn cắn thêm miếng khoai rồi khua mái chèo về phía căn nhà sàn đã le lói ánh đèn dầu bên kia sông.
Sau lưng hắn, trên dòng sông đen kịt, chiếc hoa đăng cũ của Tôn bà bà vẫn trôi chập chờn mà không hề tắt.